TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST | |
| Ngày: 04/4/2025 |
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Anh Thư
- Bà Trần Thị Kim Dung
- - Thư ký phiên toà:
- Bà Đỗ Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 975/2025/TLST – HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1996;
- Nơi cư trú: Số D T, phường L, thành phố N, Đ, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Hải N, sinh năm 1994;
- Nơi cư trú: Số H, ngõ C, Định Công, tổ B phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị Thu T trình bày:
Chị và anh Phạm Hải N tự kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 30/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sinh sống tại nhà số H, ngõ C Đ, phường Đ, quận H, TP Hà Nội.
Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn từ khoảng tháng 10/2020. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N nhiều lần vi phạm chế độ một vợ một chồng, có hành vi bạo lực gia đình khiến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị và con gái đã chuyển về Nam Định sinh sống cùng bố mẹ đẻ từ tháng 6/2022, cháu H theo học mẫu giáo ở quê từ tháng 3/2023. Sau khi phát sinh mâu thuẫn hai vợ chồng chị đã tìm mọi biện pháp khắc phục, anh nam đã chuyển về Nam định sinh sống và làm việc khoảng 01 năm để hàn gắn cuộc sống vợ chồng nhưng không thay đổi và không có kết quả, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hải N.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 23/12/2020, ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và đề nghị anh N phải cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng cho con. Hiện chị đang làm việc tại Ngân hàng TMCP Q thu nhập ổn định và đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung chị không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
Chị T xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại buổi hòa giải và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Phạm Hải N trình bày:
Anh và vợ là chị Đoàn Thị Thu T kết hôn có đăng ký kết hôn từ ngày 30/9/2020 tại UBND phường Đ, quận H, TP Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà số H, ngõ C Đ, phường Đ, quận H, TP Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng nhưng theo anh là mâu thuẫn nhỏ có thể giải quyết. Ngoài những mâu thuẫn nhỏ thì có phát sinh vấn đề như không chung thủy, thường xuyên vi phạm quy định hôn nhân một vợ một chồng. Anh thấy hai vợ chồng chưa tìm được tiếng nóng chung để giải quyết mâu thuẫn do hai vợ chồng không có cơ hội ngồi lại được với nhau để nói chuyện vì khi xảy ra mâu thuẫn vợ anh sẽ bỏ về nhà ngoại trong khi anh có tác động như đuổi, đánh...Anh cũng thể hiện muốn hàn gắn nhưng chưa tìm được tiếng nói chung. Anh đã chuyển công tác từ Hà Nội về Nam Định từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2024 mới quay về Hà Nội. Trong thời gian về Nam Định anh đã thuê nhà riêng để hai vợ chồng ở, nhưng do mâu thuẫn vợ anh lại bỏ về nhà ngoại, anh sinh sống một mình ở Nam Định trong 6 tháng rồi do công việc nên phải về Hà Nội. Quá trình hai vợ chồng chung sống anh không có ý định ly hôn, trong khi vợ anh thì nhiều lần yêu cầu. Hiện nay anh vẫn đi lại để về thăm con và cấp dưỡng 5.000.000 đồng/ tháng để vợ anh chăm sóc con. Nay vợ anh đề nghị ly hôn anh không đồng ý và xác định mâu thuẫn vẫn có thể giải quyết và tình cảm vợ chồng vẫn còn.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 23/12/2020, nếu ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu vợ cấp dưỡng sau ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung, anh xác định không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện VKS ND quận H phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 39, 48, 198, 203, 205, 208, 209, 210, 220 và các điều tại chương 14 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung:
Về hôn nhân: nguyên đơn bị đơn đều xác định xảy ra mâu thuẫn là do anh N có quan hệ ngoài hôn nhân, chị T đã về Nam Định sinh sống, tòa án hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn, do đó xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trần trọng, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Chị T, anh N có một con chung là cháu Phạm Gia H, xét thấy cháu H còn nhỏ, là nữ cần được sự quan tâm chăm sóc của mẹ, hơn nữa cháu H đang ở cùng chị T tại Nam Định, đề đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của cháu H đề nghị giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị T đề nghị cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng, anh N không có ý kiến gì và có nguyện vọng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung không có nên đề nghị không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, giao cháu H cho chị T nuôi dưỡng, anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Chị Đoàn Thị Thu T và anh Phạm Hải N vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời khai tại phiên tòa sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn là Anh Phạm Hải N là bị đơn, hiện có địa chỉ cư trú tại Số H ngõ C Đ, tổ B phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội do đó căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điêu 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
Nguyên đơn là chị Đoàn Thị Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Hải N là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và không có đơn xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ Khoản 1, Điều 228; khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh N.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Thị Thu T đối với anh Phạm Hải N: Chị và anh Phạm Hải N tự kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội, xác định đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án anh N, chị T đều trình bày, quá trình chung sống hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N vi phạm chế độ một vợ một chồng, hai vợ chồng đều tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả, tuy nhiên anh N không đồng ý ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn của hai vợ chồng có thể khắc phục được.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa chỉ Số H ngõ C Đ, tổ B phường Đ, quận H, xác định hiện nay chị T không chung sống cùng anh N. Lời khai của anh N, chị T và tài liệu do chị T cung cấp thể hiện chị T đã bỏ về ở cùng bố mẹ đẻ từ 06/2022 đến nay. Tòa án đã tổ chức 03 buổi hòa giải đối với anh N, chị T tuy nhiên không thành, 02 buổi hòa giải sau anh N, chị T đều vắng mặt. Mục đích của hôn nhân là vợ chồng cùng chung sống, yêu thương, chia sẻ với nhau nhưng quá trình chung sống anh N vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, hiện nay anh N, chị T đã sống ly thân, Tòa án đã để anh chị có thời gian tự hòa giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng cả hai đều không có phương án hòa giải, bản thân anh N là bị đơn cũng vắng mặt tại buổi hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm. HĐXX xác định tình cảm vợ chồng anh chị không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Anh N, chị T có 01 con chung là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 23/12/2020. Ly hôn anh N, chị T đều đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Tòa án đã yêu cầu chị T, anh N cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh thu nhập và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Anh N đã nhận được tống đạt hợp lệ Quyết định nhưng không cung cấp tài liệu cho Tòa án. Chị T cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh, hiện cháu H đang cư trú cùng chị T tại phường L, Thành phố N và theo học tại nhóm trẻ độc lập mầm non D từ ngày 01/3/2023 đến nay;
Chị T có mức thu nhập ổn định khoảng 20.000.000 đồng/tháng (có sao kê tài khoản chứng minh).
Xét thấy, hiện nay cháu H do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và chị T đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng cháu H, mặt khác cháu H là con gái nên cần được sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ do đó yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H sau ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và được chấp nhận. Anh N được quyền đi lại chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T có yêu cầu được nuôi con và buộc anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Do chị T, anh N không thỏa thuận được mức cáp dưỡng nuôi con, nên HĐXX căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình buộc anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phạm Gia H. Chị T yêu cầu mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/ tháng, anh N trình bày hiện nay hàng tháng anh vẫn gửi cho chị T 5.000.000 đồng/tháng để nuôi cháu H, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu này của chị T, buộc anh N cấp dưỡng nuôi con chung là cháu H với mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh N đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Đoàn Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh N phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Đoàn Thị Thu T và anh Phạm Hải N có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điêu 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 147; khoản 1, Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51; khoản 1, Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thu T và anh Phạm Hải N:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Thu T được ly hôn với anh Phạm Hải N;
- Về con chung: Giao con chung của chị Đoàn Thị Thu T và anh Phạm Hải N là cháu Phạm Gia H, sinh ngày 23/12/2020 cho chị Đoàn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi cháu H trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Phạm Hải N có quyền đi lại chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Buộc anh Phạm Hải N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Phạm Gia H với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải trả lãi suất đối với số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0034449 ngày 30/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Buộc anh Phạm Hải N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị Thu T và anh Phạm Hải N vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thịhành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hà |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn
