|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-PT Ngày: 18/6/2025. V/v: “Tranh chấp về tài sản chung sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định:
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 08/2025/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về: “Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 72/2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Có mặt – CCCD: [...]
- Bị đơn: Chị Hồ Thị S, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Có mặt - CCCD: [...]
Người kháng cáo: Bị đơn chị Hồ Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Văn Bnh bày:
Vào ngày 13/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 62/2024/QÐST-HNGĐ giải quyết về hôn nhân, con chung; còn về tài sản chung anh Lê Văn Bchị Hồ Thị Sng yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Bchị Sng tự phân chia được tài sản chung của anh B, chị S yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của anh B, chị S 01 ngôi nhà cấp 4 nằm trên thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhào sổ cấp giấy chứng nhạn quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005 cho hộ ông Lê văn Btài sản chung của anh Bchị S, còn thửa đất mà anh Bchị S dựng nhà là tài sản riêng của anh Btrước khi kết hôn với chị S là tài sản riêng của anh B. Anh Lê Văn B cầu Tòa án giải quyết chia ngôi nhà nói trên mỗi người ½ ngôi nhà và các tài sản khác theo giá Hội đồng định giá đã định vào ngày 21/11/2024 theo giá thị trường là 122.806.800đồng. Anh B được ở ngôi nhà và có trách nhiệm thối lại ½ giá trị nhà cho chị Ssố tiền 61.403.400đồng. Riêng thửa đất số: 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m²; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005; tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản riêng của anh Btrước hôn nhân nên là tài sản riêng của anh Bng yêu cầu chia. Nếu Tòa giải quyết chia ½ thửa đất trên với số tiền là 450.000.000đồng cho chị So giá như Hội đồng định giá đã định vào ngày 21/11/2024 thì anh Bng chấp nhận chia thửa đất trên cho chị S.
Tại bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn chị Hồ Thị Snh bày:
Vào ngày 13/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 62/2024/QÐST-HNGĐ giải quyết về hôn nhân, con chung; còn về tài sản chung anh Bchị Hồ Thị Sng yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Sanh Bkhông tự phân chia được tài sản chung. Nay anh B cầu chia tài sản chung của chị Sanh B chị Sg ý yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung nhưng anh Lê Văn B cầu chia 01 ngôi nhà cấp 4 nằm trên thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản chung của chị Sanh Bng thời kỳ hôn nhân là không đúng. Vì trước khi kết hôn anh Bthửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m²; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005; tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, sau khi kết hôn về chị Sanh Bng sống anh Bng nhất để cha chị S tiền chị Sanh B dựng 01 ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất nói trên nên nhà và đất là tài sản chung của chị S anh Btrong thời kỳ hôn nhân. Chị Sng nhất giá nhà và đất mà Hội đồng định giá đã định giá vào ngày 21/11/2024. Chị S cầu chia ½ giá trị nhà số tiền 61.403.400đồng và ½ giá trị đất số tiền là 450.000.000đồng nói trên và chị S nhận nhà và đất và có trách nhiệm thối ½ giá trị nhà và đất cho anh B. Vì sau khi ly hôn Tòa án giao mỗi người nuôi một người con chung nhưng anh Bng nuôi mà hiện nay chị Si hai con chung, anh Bg không chu cấp gì cho con nên chị S nhận nhà và đất để ở nuôi hai con. Vì hiện nay chị Sg không có chỗ ở nào khác để ở.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 72/2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã quyết định:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- - Căn cứ vào các Điều 207, Điều 213, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 28, Điều 29, Điều 33, Điều 38, Điều 43, Điều 44, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Văn B.
- Về tài sản chung:
Giao thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005 cho hộ ông Lê Văn B01 ngôi nhà cấp 4, công trình phụ được xây dựng trên thửa đất tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhanh Lê Văn Bc trọn quyền sử dụng ngôi nhà, mái hiên, hệ thống tầng ngầm, giếng nước có giá trị 122.806.800đồng.
Buộc anh Lê Văn Bi có nghĩa vụ thối lại ½ giá trị ngôi nhà cho chị Hồ Thị S số tiền 61.403.400 đồng.
- Cho chị Hồ Thị Sc quyền lưu trú trong thời hạn 06 tháng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật trên ngôi nhà của vợ chồng tại thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhhị Sthời gian tìm nơi ở mới.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2025, bị đơn chị Hồ Thị Sng cáo yêu cầu chấp nhận nhà và đất toạ lạc trên thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05 toạ lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản chung của vợ chồng chị Snh B; giao cho chị Sc quyền sử dụng nhà và đất trên thửa đất trên, chị Sthối lại ½ giá trị nhà và đất cho anh B.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Chị Hồ Thị S nguyên kháng cáo, yêu cầu giao cho chị Sc quyền sử dụng nhà và đất trên thửa đất thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05 toạ lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản chung của vợ chồng, chị Sthối lại ½ giá trị nhà và đất cho anh B.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của chị Hồ Thị S, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số: 72/2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét kháng cáo yêu cầu chấp nhận nhà và đất toạ lạc trên thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05 toạ lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản chung của vợ chồng chị Snh B chị Hồ Thị S, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống, anh Bchị Sng có bất kỳ văn bản nào phân chia tài sản chung cũng như xác lập tài sản riêng của vợ chồng. Tuy nhiên, Chị Sg đã thừa nhận nguyên thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m²; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005; tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhguồn gốc là của anh Btrước thời kỳ hôn nhân và chị Sg không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh anh Lê Văn Bchị Hồ Thị Sả thuận là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, có căn cứ để xác định thửa đất trên là tài sản riêng của anh B. Do đó, cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 999, tờ bản đồ số 5, diện tích 180m² toạ lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhài sản riêng của anh Bphù hợp.
Đối với 01 ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất nói trên, Số tài sản này được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình được xác định là tài sản chung của anh Bchị Sphù hợp.
Do đó, cấp sơ thẩm xét giao thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005 cho hộ ông Lê Văn B01 ngôi nhà cấp 4, công trình phụ được xây dựng trên thửa đất cho anh Lê Văn Bc trọn quyền sử dụng và anh Bi có nghĩa vụ thối lại ½ giá trị ngôi nhà cho chị Hồ Thị S số tiền 61.403.400 đồng là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên chị Hồ Thị Si chịu 300.000đ án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Hồ Thị Sphù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 207, Điều 213, Điều 219 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 28, Điều 29, Điều 33, Điều 38, Điều 43, Điều 44, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình
- - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Hồ Thị S; giữ nguyên quyết định về hôn nhân của bản án sơ thẩm số: 72/2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Về tài sản chung:
Giao thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00106 được Ủy ban nhân dân huyện Pp ngày 25/5/2005 cho hộ ông Lê Văn B01 ngôi nhà cấp 4, công trình phụ được xây dựng trên thửa đất tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhanh Lê Văn Bc trọn quyền sử dụng ngôi nhà, mái hiên, hệ thống tầng ngầm, giếng nước có giá trị 122.806.800đồng.
Buộc anh Lê Văn Bi có nghĩa vụ thối lại ½ giá trị ngôi nhà cho chị Hồ Thị S số tiền 61.403.400 đồng.
- Cho chị Hồ Thị Sc quyền lưu trú trong thời hạn 06 tháng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật trên ngôi nhà của vợ chồng tại thửa đất số 999, tờ bản đồ số 05, diện tích 180m² tọa lạc tại thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Địnhhị Sthời gian tìm nơi ở mới.
- Về án phí: Chị Hồ Thị Si chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số: 0004419 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (chị Snộp xong).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bá Nguyên |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-PT ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về tài sản chung sau khi ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tài sản chung sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
