|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:15/2025/HNGĐ-PT
Ngày 17 tháng 11 năm 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Toàn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Quyết Thắng.
2. Bà Đỗ Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Bà Mạc Minh Song – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 113/2025/QĐ-PT, ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị X, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Thôn C, xã M, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Anh Mông Văn T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn C, xã M, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
-
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn anh Mông Văn T: Ông Đàm Văn V, ông Quách Việt H - thuộc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Minh Vương Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số A L, phường L, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Anh Mông Văn T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị X trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị X và anh Mông Văn T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai) vào ngày 26/4/2022. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ, chửi bới, vợ chồng không hoà hợp. Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mông Văn T.
- Về con chung: Chị X và anh T có một con chung là cháu Mông Minh T1, sinh ngày 01/7/2022. Cháu T1 hiện đang ở cùng chị X, khi ly hôn chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Mông Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T công nhận về thời gian, điều kiện và địa điểm đăng ký kết hôn như chị Hoàng Thị X trình bày là đúng sự thật. Quá trình chung sống đến tháng 3/2023 thì chị X tự ý ôm con về nhà ngoại tại Thôn T, xã X, huyện Q, tỉnh Hà Giang (nay là thôn T, xã X, tỉnh Tuyên Quang) để ở. Hai vợ chồng đi làm thuê phát hiện chị X ngoại tình, mâu thuẫn đã được hoà giải nhưng không có kết quả. Chị X đề nghị ly hôn, anh T đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có một con chung như chị X trình bày là đúng. Hiện tại cháu đang ở với mẹ đẻ tại thôn T, xã X, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án Hôn nhân và gia đình số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai đã quyết định: Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị X được ly hôn anh Mông Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Mông Minh T1, sinh ngày 01/7/2022 cho chị Hoàng Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi; anh Mông Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Mông Văn T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa một phần bản án sơ thẩm, xem xét anh T được trực tiếp nuôi con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Bị đơn anh Mông Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, nguyên đơn chị Hoàng Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Mông Văn T, giữ nguyên toàn bộ bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.
Tuyên án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Mông Văn T có đầy đủ các nội dung theo mẫu đơn và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên được xác định là hợp lệ.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị X kết hôn với nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai) trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Do vậy, hôn nhân giữa anh T và chị X là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vì vậy, chị X xác định tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của chị X.
[2.2]. Về con chung: Sau khi phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, tháng 3/2023 chị X và cháu T1 đã về nhà mẹ đẻ của chị X sinh sống tại thôn T, xã X, huyện Q, tỉnh Hà Giang (nay là thôn T, xã X, tỉnh Tuyên Quang). Chị X làm công việc tự do, thu nhập ổn định trung bình 400.000 đồng/ngày, anh T có thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Căn cứ vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, thu nhập thực tế của anh T, chị X và nguyện vọng của chị X về việc nuôi con. Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cháu Mông Minh T1 cho chị X chăm sóc, giáo dục là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Mông Văn T.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn anh Mông Văn T không được chấp nhận, nên anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Mông Văn T, giữ nguyên toàn bộ bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Mông Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000925 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Anh T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Toàn |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp vè nuôi con khi ly hôn giữa Nguyên đơn chị Hoàng Thị X và bị đơn anh Mông Văn T
