TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HC-ST
Ngày: 23-01-2025
V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân, Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên toà: Bà Đinh Thị Mai Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/01//2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 137/2024/TLST-HC ngày 16/4/2024 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2024/QĐXXST-HC ngày 16/12/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐXXST-HC ngày 06/01/2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị H, sinh năm 1972
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị H:
Luật sư Lê Thị T, Luật sư Nguyễn Thị Linh C, Luật sư Bùi Thị Thu H1 – Đều vắng mặt.
Bà Cù Thị Thanh H2 – Có mặt
Thuộc Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ trụ sở: Thôn Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội
Địa chỉ: Số E đường L, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 - Chủ tịch UBND thành phố S.
Người đại diện theo uỷ quyền; Ông Nguyễn Ngọc B - Phó Chủ tịch UBND thành phố S. Vắng mặt
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân tỉnh T;
- Chi cục T5 khu vực thành phố S - Q;
- Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S;
- Ông Nguyễn Tuấn P – sinh năm 1971
Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T2 - Chủ tịch UBND tỉnh T; Vắng mặt
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, thành phố S, Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bá H3 - Chi cục Trưởng. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Thanh Đ – Chủ tịch UBND phường Q. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 14/02/2023,Đơn sử đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 08/4/2024, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, người khởi kiện bà Lê Thị H trình bày:
- - Ngày 04/6/2018, UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 2169/QĐ-UBND thu hồi của gia đình bà 121,6m² (trong đó có 100m² đất ở tại đô thị, 21,6m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 831, TBĐ số 10z, phường Q, thành phố S để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình đường G với Khu K (giai đoạn 1).
- - Ngày 08/11/2019, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 5287/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án, trong đó có gia đình bà.
- - Ngày 31/12/2019, UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 6420/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, phường Q, thành phố S; cụ thể lô TĐC-12:14, diện tích 114,95m², đơn giá 4.000.000đ/m², thành tiền 459.800.000 đồng.
- - Ngày 18/02/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 753/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; cụ thể lô TĐC-12:14, diện tích 114,95m², đơn giá 7.500.000đ/m², thành tiền 862.125.000 đồng.
- - Ngày 23/5/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2753/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tuấn P có đất ở
3
thu hồi tại phường Q, để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với Khu K (giai đoạn 1). Theo đó giao cho bà H, ông P 01 lô TĐC-12:14, diện tích 114,95m², tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, phường Q, thành phố S. Quyết định số 2753/QĐ-UBND đã căn cứ giá đất ở cụ thể được phê duyệt tại Quyết định 755/QĐ-UBND, thì bà phải nộp số tiền 862.125.000 đồng (đơn giá 7.500.000đ/m²).
Bà không đồng ý với nội dung căn cứ quyết định giá đất cụ thể năm 2022 theo Quyết định 755/QĐ-UBND, vì:
Thứ nhất, giá đất cụ thể năm 2022 do UBND thành phố S phê duyệt trong Quyết định 755/QĐ-UBND là sai quy định. Việc xác định giá đất cụ thể để giao đất tái định cư thực hiện Dự án phải được thực hiện theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai 2013; Điều 4, khoản 1, 2 Điều 18 Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
UBND thành phố S thống nhất áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp với phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể là trái quy định pháp luật. Trong trường hợp này phải xác định theo phương pháp hệ số giá điều chỉnh.
Thứ hai, Quyết định 2753/QĐ-UBND phải được ban hành cùng thời điểm thu hồi đất, giá đất phải được xác định tại thời điểm năm 2019 (là thời điểm UBND thành phố S ban hành Quyết định số 5287/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 về việc phê duyệt phương án bố trí tái định cư) mới đảm bảo nguyên tắc kịp thời, công bằng, cùng thời điểm mà pháp luật quy định.
Thứ ba, UBND thành phố S có quyết định thu hồi đất ở của gia đình bà từ năm 2018. Tại thời điểm thu hồi đất, UBND thành phố S vẫn chưa đảm bảo đầy đủ đất ở tái định cư cho gia đình bà. Thậm chí đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, hạ tầng kỹ thuật của các mặt bằng tái định cư vẫn chưa được đảm bảo, một số tuyến đường nội bộ vẫn chưa hình thành nền đường, gạch đá ngổn ngang; trong khu vực vẫn chưa được đấu nối điện, nước.
Hành vi chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất ở tái định cư, không đảm bảo đất ở tái định cư đã vi phạm các quy định sau đây:
- - Vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: “bố trí chỗ ở mới cho người có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa”;
- - Vi phạm nguyên tắc bồi thường về đất: “việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi .... tại thời điểm quyết định thu hồi đất”;
- - Vi phạm quy định “việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư” (theo khoản 3 Điều 85 Luật Đất đai 2013);
- - Vi phạm quy định “phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất” (theo khoản 1 Điều 26
4
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP);
- - Vi phạm quy định “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày” (theo điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai 2013);
- - Vi phạm quy định “Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền” (khoản 2 Điều 85 Luật Đất đai 2013);
- - Nguyên tắc “kịp thời” theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Hành vi không công bằng trong việc thực hiện tái định cư: Trước thời điểm giao đất cho gia đình bà, UBND thành phố S đã giao đất cho hàng trăm hộ gia đình cá nhân khác, nhưng đến năm 2022 mới giao đất cho bà. Hành vi này vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Từ những phân tích nêu trên bà Lê Thị H yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu 1: Hủy bỏ một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của U về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, liên quan đến thửa đất tái định cư của hộ ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H ( lô TĐC 12:14).
- Yêu cầu 2: Hủy bỏ một phần Quyết định số 2753/QĐ-UBND ngày 23/5/2022 của U đối với hộ bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tuấn P nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành phố S và đề nghị UBND Thành phố S thay nội dung này bằng “Quyết định số 6420/Q UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành p S1;
- Yêu cầu 3: Buộc Người bị kiện là U phải ra quyết định về vi hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực T5-Q phải thực hiện hoàn trả cho Người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019 là 402.325.000 đồng
- Yêu cầu 4: Buộc UBND thành phố Sầm Sơn bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bà phát sinh từ các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái quy định, đối với số tiền thu trái quy định nêu trên theo mức lãi xuất 10%năm, tính từ ngày 22/8/2022 đến ngày xét xử hôm nay 23/01/2025 là 98.905.000đồng.
- Yêu cầu 5: Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho Người khởi kiện là trái quy định pháp luật, buộc UBND thành
5
phố S phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Người khởi kiện phát sinh từ hành vi vi phạm này, bao gồm nhưng không giới hạn bởi số tiền chênh lệch giữa giá đất năm 2022 với giá đất năm 2019 mà Người khởi kiện phải nộp và tiền lãi phát sinh từ số tiền chênh lệch đó (đã xác định tại yêu cầu khởi kiện 3. và 4.)
* Công văn số 4615 ngày 09/9/2024 của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố S:
- Về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H :
- Về việc giao đất tái định cư cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H:
Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Đầu tư xây dựng công trình đường G với khu K giai đoạn 1.
Ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H có diện tích 121,6m² (đất ở 100,0m², đất trồng cây lâu năm 21,6m²), phường Q bị thu hồi thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với khu K (giai đoạn 1).
Ngày 04/6/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 2169/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường G với khu K và Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho 37 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với khu K. Trong đó, ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H thu hồi và bồi thường, hỗ trợ về đất với diện tích 121,6m², loại đất ở.
Căn cứ Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Tại thời điểm thu hồi đất, UBND tỉnh T đã ban hành Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với khu K (giá đất của Thửa đất theo Bảng giá đất là 1.500.000 đồng/m²; giá đất cụ thể để tính tiền bồi Thường là 4.005.000 đồng/m²).
Như vậy, UBND thành phố S đã quyết định thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất bằng tiền được tính theo giá đất cụ thể (giá đất thị trường) cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H là đảm bảo theo quy định của pháp luật tại thời điểm thu hồi đất. Ngày 27/6/2019, ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H đã đồng ý nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản-vật kiến trúc, cây cối hoa màu nêu trên.
6
Căn cứ Khoản 3, Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Giá đất để thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm nhà nước quyết định giao đất ở tái định cư.
Ngày 18/02/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 755/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư Đ, phường Q. Ngày 23/5/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2753/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị Hồng L TĐC 12:14, diện tích 114,95m², tại mặt bằng tái định cư Đ.
Ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H được UBND thành phố S giao đất năm 2022, tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm giao đất theo giá đất cùng thời điểm năm 2022 là đúng các quy định của pháp luật. Việc ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H được giao đất năm 2022, nhưng đề nghị tính giá đất để thu tiền sử dụng đất tái định cư theo giá đất năm 2019 là không đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, xét xử bác Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H./.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND tỉnh T; Chi cục thuế khu vực thành phố S - Q và UBND phường Q: Không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
* Tại phiên tòa:
- - Người khởi kiện giữ nguyên nội dung khởi kiện; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. (có văn bản nêu ý kiến gửi kèm)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc đưa ra xét xử vụ án nhưng đều vắng mặt họ.
Tại phiên toà bà Lê Thị H có ý kiến: Bà là vợ ông Nguyễn Tuấn P, các thông tin về việc giải quyết vụ án và phiên Toà, bà sẽ về thông báo lại cho ông P biết.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, tổ chức đối thoại, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành việc triệu tập và có mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Lê Thị H. Bà H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên và các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng:
1.1 Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư Đ (gọi tắt là Quyết định 755/QĐ-UBND); Quyết định số 2753/QĐ-UBND ngày 23/5/2022 của UBND thành phố S về việc giao đất ở tái định cư cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H (gọi tắt là Quyết định số 2753/QĐ-UBND) và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Đây là Quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai, là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
1.2. Quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện:
Ngày 23/5/2022 UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2753/QĐ-UBND về việc giao đất tái định cư cho hộ bà H. Bà H cho rằng quyền và lợi ích hợp của bà bị xâm phạm, ngày 14/02/2023 bà nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính. Vì vậy, bà H có quyền khởi kiện và còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 115 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
1.3. Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện UBND thành phố S, Chi cục Thuế khu vực thành phố S - Q, đại diện UBND tỉnh T, UBND phường Q, ông Nguyễn Tuấn P vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H
2.1. Về trình tự thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Lê Thị H:
Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án Đầu tư xây dựng công trình đường G với Khu K (giai đoạn 1).
Ngày 04/6/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 2169/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với Khu K (giai đoạn 1) và Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với 37 hộ sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với khutế N, trong đó có hộ ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H với diện tích thu hồi đất
8
121,6m² (trong đó: đất ở 100m²; đất trồng cây lâu năm 21,6m²) và được bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất. Ngày 27/6/2019, ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị H đã đồng ý nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản-vật kiến trúc, cây cối hoa màu nêu trên.
Tại phiên Toà bà Lê Thị H xác nhận đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản-vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên diện đất bị thu hồi của gia đình bà nêu trên, và không có khiếu nại đối với nội dung thu hồi và bồi thường về đất và tiền bồi thường cho gia đình bà.
Tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Như vậy, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2169/QĐ-UBND và Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ bà Lê Thị H là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 52, 56 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; các Điều 62, 66, 67, 69 Luật Đất đai năm 2013.
2.2. Về yêu cầu buộc người bị kiện là U phải ra Quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực T5 - Q phải thực hiện hoàn trả cho bà H khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019; buộc UBND thành phố S bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bà phát sinh từ các Quyết định hành chính, hành vi hành chính trái quy định:
Ngày 23/5/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2753/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho ông Nguyễn Tuấn P và bà Lê Thị Hồng L TĐC 12:14, diện tích 114,95m², tại mặt bằng tái định cư Đ.
Tại phiên Toà bà Lê Thị H xác nhận, sau khi nhận Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1283/TB- CCT ngày 24/5/2022 của Chi cục T5 khu vực thành phố S - Q, gia đình bà đã thực hiện nộp đầy đủ số tiền theo như thông báo là 862.125.000 đồng và đã được UBND thành phố S, tỉnh Thanh hoá cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất TĐC 12:14, diện tích 114,95m², tại mặt bằng tái định cư Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại Mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư K, phường Q, thành phố S;
Căn cứ Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của UBND tỉnh T, về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2022 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 18/01/2022, về việc ủy quyền phê duyệt giá đất cụ thể để giao đất tái định cư và giá đất cụ thể để xác định giá khởi điểm
9
đấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất hoặc cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;
Căn cứ Quyết định 2753QĐ-UBND ngày 23/5/2022, về việc giao đất ở tái định cư cho hộ ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H có đất ở thu hồi tại phường Q, để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với Khu K (giai đoạn 1).
Chi cục T5 khu vực thành phố S - Q căn cứ khoản 1 Điều 2 Quyết định 2753QĐ-UBND ngày 23/5/2022của UBND thành phố S về giao đất ở tái định cư cho hộ ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H có đất ở thu hồi tại phường Q, thành phố S để Chi cục Thuế ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1283/TB - CCT ngày 24/5/2022 đối với ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H. Nội dung Thông báo đã ghi đầy đủ, chính xác các thông tin về đất, giá tính tiền sử dụng đất (tại Mục 13 phần II Thông báo) ghi đúng giá đất ở tái định cư của các lô đất tại Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) của UBND thành phố S để ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất.
Về cơ sở để xác định nghĩa vụ tài chính và ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất (đất ở tái định cư) đối với hộ ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H nêu trên, Chi cục T5 đã thực hiện theo đúng quy định tại Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 và Quyết định số 2753/QĐ-UBND ngày 23/5/2022 của UBND thành phố S nêu trên. Do đó, Chi cục Thuế ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H là đúng quy định của pháp luật.
UBND thành phố S tính giá đất để thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm Nhà nước quyết định giao đất ở tái định cư (năm 2022) là đúng quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Bà H yêu cầu áp dụng Quyết định số 6420/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu TĐC khu Đ, phường Q, thành phố S là không có căn cứ chấp nhận.
Như vậy, bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022, hủy một phần Quyết định số 2753/QĐ-UBND ngày 23/5/2022 của UBND thành phố S và buộc UBND thành phố S hoàn trả lại số tiền chênh lệch giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019; bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
10
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính. Điều 74, Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc yêu cầu:
- Hủy bỏ một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của U về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, liên quan đến thửa đất tái định cư của hộ ông Nguyễn Tuấn P, bà Lê Thị H (lô TĐC 12:14).
- Hủy bỏ một phần Quyết định số 2753/QĐ-UBND ngày 23/5/2022 của U đối với hộ bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tuấn P nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành phố S và đề nghị UBND Thành phố S thay nội dung này bằng “Quyết định số 6420/Q UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành phố S;
- Buộc Người bị kiện là U phải ra quyết định về vi hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực T5-Q phải thực hiện hoàn trả cho Người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019 là 402.325.000 đồng
- Buộc UBND thành phố S bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bà phát sinh từ các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái quy định, đối với số tiền thu trái quy định nêu trên (402.325.000 đồng) theo mức lãi xuất 10%năm, tạm tính từ ngày 22/8/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/01/2025 là 98.905.000đồng. Tổng cộng là: 501.230.000đồng.
- Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho Người khởi kiện là trái quy định pháp luật, buộc UBND thành phố S phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Người khởi kiện phát sinh từ hành vi vi phạm này, bao gồm nhưng không giới hạn bởi số tiền chênh lệch giữa giá đất năm 2022 với giá đất năm 2019 mà Người khởi kiện phải nộp và tiền lãi phát sinh từ số tiền chênh lệch đó (đã xác định tại yêu cầu khởi kiện 3. và 4.)
* Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà H nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000274 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.
11
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút ngày 26 tháng 6 năm 2024;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị H4
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh L1
Ông Nguyễn Quốc N
12
Tiến hành nghị án vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 54/2023/TLST-HC ngày 06/6/2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HC ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị S, sinh năm 1966; có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND tỉnh T.
- Chi cục thuế khu vực thànhphố S - Q.
- UBND phường Q, thành phố S.
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị S: Luật sư Lê Thị T, Luật sư Bùi Thị T3 sư Nguyễn Thị Linh C, bà Cù Thị Thanh H2 - Công ty L2.
Địa chỉ: Số B D, phường Đ, N, Thànhphố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 - Chủ tịch UBND thành phố.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc B - Phó Chủ tịch UBND thành phố; vắng mặt.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H5 - Trưởng PhòngTNMT thành phố; có mặt.
Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T2 - Chủ tịch UBND tỉnh; vắng mặt.
Địa chỉ: C Đ, phường L, thànhphố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bá H3 - Chi cục trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T4 - Phó Độitrưởng; vắng mặt.
Địa chỉ: B đường L, phường T, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Q, thànhphố S, tỉnh Thanh Hóa.
- Căn cứ Điều 191 Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính. Điều 74, Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
13
Biểu quyết: Thống nhất 3/3
* Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S về việc yêu cầu:
- - Hủy Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch kđịnh cư Đ.
- - Hủy một phần Quyết định số 4260/QĐ-UBND ngày 30/7/2022 của U đối với bà Lê Thị S, nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khuĐồng Hón, phường Q, thành phố S” và đề nghị UBND thànhSầm Sơn thay nội dung này bằng “Quyết định số 6420/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu T, phường Q, thành phố S”
- - Buộc người bị kiện là UBND thành phố S phải ra quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuếkhu vực S - Q phải thực hiện hoàn trả cho người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019 (số tiền yêu cầu hoàn trả là 350.000.000₫).
- - Buộc người bị kiện thanh toán các khoản thiệt hại cho người khởi kiện (theo khoản 4 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017).
- - Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho gia đình bà Lê Thị S là trái quy định của pháp luật. Buộc UBND thành phố S bồi thường các thiệt hại phát sinh từ hành vi hành chính trái quy định pháp luật. Mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền đã nộp chênh lệch tính từ ngày 06/9/2022 (ngày nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách) đến ngày 26/6/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) số tiền 64.069.444₫.
Biểu quyết: Thống nhất 3/3
2. Về án phí: Bà S phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà S nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòaán số AA/2022/0000455 ngày 23/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Biểu quyết: Thống nhất 3/3
* Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bảnhoặc Bảnniêm yết theo quy định của pháp luật.
Biểu quyết: Thống nhất 3/3
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
14
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Danh Lơi Nguyễn Quốc Nông | Lê Thị Hiệu |
Bản án số 15/2025/HC-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 15/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai