|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do– Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/DSST Ngày: 12/06/2025 "V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
Vinh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Thái
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Công Thẩm – bà Phan Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2023/TLST-DS ngày 02/06/2023 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 08/04/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 15/05/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần Golden City
Địa chỉ: Tòa nhà G, 25, Nguyễn Thị Minh K, thành phố V, Nghệ An
Đại diện theo pháp luật: ông Hồ Văn G – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: bà Hoàng Thị M – Phó Tổng giám đốc
Bà M có mặt
Bị đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1984
CCCD: [...]
Địa chỉ: xóm A, xã N, thành phố V, Nghệ An.
Địa chỉ hiện tại: quán C, xóm A, xã N, thành phố V, Nghệ An.
Ông S vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà hôm nay đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn (bà Hoàng Thị M) trình bày:
Công ty Cổ phần G2 là Chủ đầu tư của Dự án Khu dân cư G tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận đầu tư số 27111000087 ngày 10/10/2014 do UBND tỉnh N cấp, thay đổi lần thứ nhất ngày 25/10/2019.
Toàn bộ diện tích đất nằm trong quy hoạch thực hiện dự án G tại xã N đã được UBND thành phố V ban hành theo các văn bản sau: Quyết định thu hồi đất số 4954/QĐ-UBND ngày 21/08/2018 về việc thu hồi đất tại xã N để thực hiện dự án khu dân cư G xã N, thành phố V (đợt 1); Quyết định số 6798/QĐ-UBND ngày 19/11/2019 về việc thu hồi đất tại xã N để thực hiện dự án khu dân cư G xã N, thành phố V (đợt 2 – 22 hộ gia đình, cá nhân); Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 20/01/2021 về việc thu hồi đất thực hiện dự án Quy hoạch khu dân cư G tại xã N, thành phố V (đợt 3); Quyết định số 516/QĐ-UBND ngày 03/12/2020 và Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 04/03/2021 về việc giao đất cho Công ty Cổ phần G2 tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An và (“Quyết định thu hồi và giao đất”).
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Dự án, Công ty Cổ phần G2 bị gia đình ông S (không có đất nông nghiệp bị thu hồi tại Dự án) lấn chiếm đất, ngang nhiên xây dựng ki ốt kinh doanh trái phép trên một phần diện tích đất thuộc quy hoạch của Dự án. Cụ thể, gia đình ông S đã lấn chiếm một phần diện tích đất khoảng 385 m² của các thửa đất số 7, 10, 11, 12, 13 theo tờ bản đồ số 25 có địa chỉ tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là lô khách sạn – lô số 631 theo bản đồ quy hoạch phân lô đất ở số KT-05 ngày 17/3/2015 do UBND tỉnh N phê duyệt; phía bắc và phía đông tiếp giáp với đường quy hoạch 12m, phía tây tiếp giáp với đường X, phía nam tiếp giáp với đường H) (đính kèm trích lục bản đồ số 25 và bản đồ quy hoạch phân lô đất ở). Trong khi những phần diện tích đất này đã được Công ty Cổ phần G2 hoàn thành bồi thường cho chủ sử dụng đất hợp pháp bao gồm:
Thửa đất số 10: chủ sử dụng đất là (i) hộ bà Hoàng Thị T (địa chỉ cư trú: Xóm A, xã N, thành phố V), do bà Hoàng Thị T đại diện đã nhận số tiền chi trả bồi thường đền bù giải phóng mặt bằng là: 594.224.000 đồng và tiền hỗ trợ hoa màu, khẩu là 23.636.000 đồng và (ii) hộ bà Nguyễn Thi T1 (Hy) (địa chỉ cư trú: Xóm A, xã N, thành phố V), do bà Hoàng Thị T đại diện đã nhận số tiền chi trả bồi thường đền bù giải phóng mặt bằng là: 401.744.000 đồng và tiền hỗ trợ hoa màu, khẩu là 33.758.000 đồng;
Thửa đất số 13: chủ sử dụng đất là hộ bà Nguyễn Thị H (địa chỉ cư trú: Xóm A, xã N, thành phố V), do bà Nguyễn Thị H đại diện đã nhận số tiền chi trả đền bù giải phóng mặt bằng là: 1.143.246.000 đồng và tiền hỗ trợ hoa màu, khẩu là 21.976.000 đồng; Thửa đất số 7, 11 và 12: do UBND xã N, thành phố V quản lý.
Ngày 24/02/2023, tại UBND xã N đã tổ chức hoà giải liên quan đến tranh chấp đất đai giữa ông S và Công ty Cổ phần G2 (Đính kèm biên bản họp hòa giải). Hộ ông Nguyễn Văn S không cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền sử dụng tại phần đất dựng ốt, trồng cây. Vì vậy UBND xã yêu cầu phía Công ty G2 có trách nhiệm cắm mốc, đo xác định ranh giới đất của Dự án. Đồng thời yêu cầu hộ dân dựng ki ốt và trồng cây lấn chiếm trên đất của Dự án phải di dời các cây đã trồng và tháo dỡ các ki ốt trước ngày 01/03/2023.
Thực hiện nội dung trên, Công ty Cổ phần G2 đã mời các bên liên quan tổ chức cắm lại mốc ranh giới dự án. Ngày 06/3/2023, Công ty Cổ phần G2 đã có thông báo số 66/2023/CV-GC.PTDA gửi 02 hộ gia đình về việc đề nghị tự tháo dỡ, hoàn trả mặt bằng lấn chiếm trái phép cho Chủ đầu tư tại dự án: Khu dân cư G, xã N, thành phố V. Sau khi nhận được thông báo, hộ gia đình ông Nguyễn Văn S không thực hiện việc tháo dỡ kiot cũng như di chuyển cây ra khỏi phạm vi ranh giới thực hiện dự án để hoàn trả mặt bằng. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ hoàn thành dự án của Công ty Cổ phần G3
Vì vậy, Công ty Cổ phần G2 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vinh xem xét và giải quyết nội dung sau:
Buộc ông Nguyễn Văn S phải tháo dỡ toàn bộ phần tài sản trên đất là các ki ốt đã dựng trái phép và di chuyển toàn bộ cây đã trồng ra khỏi phạm vi dự án với diện tích khoảng 385 m², tổng giá trị khoảng 7.700.000.000 đồng (Bằng chữ: bảy tỷ, bảy trăm triệu đồng) tại các thửa đất số 7, 10, 11, 12, 13 theo tờ bản đồ số 25 có địa chỉ tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là lô khách sạn – lô số 631 theo bản đồ quy hoạch phân lô đất ở số KT-05 ngày 17/3/2015 do UBND tỉnh N phê duyệt; phía bắc và phía đông tiếp giáp với đường quy hoạch 12m, phía tây tiếp giáp với đường X, phía nam tiếp giáp với đường H (đính kèm trích lục bản đồ số 25 và bản đồ quy hoạch phân lô đất ở). Buộc ông Nguyễn Văn S phải trả lại mặt bằng cho Chủ đầu tư tiếp tục thực hiện dự án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn S trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Văn S trước đây là bãi đất trống nham nhỡ, gia đình ông Nguyễn Văn S đã phở hoang, đào chổ cao, lấp chổ thấp để làm lúa từ năm 1993 đến 2013 Bệnh viện đa khoa tỉnh N đi vào hoạt động, gia đình ông Nguyễn Văn S dựng mấy ốt tạm để kinh doanh cà phê, cơm, cháo, phở (vật liệu dựng ốt tạm gồm: Khung sắt, tôn, bạt, cây cối), kinh phí xây dựng hết khoảng 700.000.000 đồng (không có hóa đơn chứng từ). Ông Nguyễn Văn S đề nghị Tòa án tiến hành đo tọa độ đất xác định vị trí để xác định đất gia đình ông Nguyễn Văn S còn lại bao nhiêu m2, thẩm định tài sản, định giá theo quy định. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Nguyễn Văn S không chấp nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên Tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn S phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 380,8 m2 (có sơ đồ kèm theo), buộc ông Nguyễn Văn S phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất lấn chiếm 380, 8 m2 gồm: Nhà lá nền xi măng trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 79, 1 m2; Ốt lợp tôn trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 12,6 m2; mái tôn trên thửa đất số 10, 13 tờ bản đồ 25 có tổng diện tích 166,7 m2; khu bếp lát gạch lợp tôn nằm trên thửa số 12, 13 tờ bản đồ số 25 có diện tích 25, 4 m2; nhà vệ sinh trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 5,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 17,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 12, tờ bản đồ 25 có diện tích 24, 4 m2; Ốt lợp tôn sàn gạch có diện tích 55,4 m2; 01 cây xoài đường kính 40cm trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25; 01 cây sanh đường kính 40 cm trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 25 (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ lập ngày 20/12/2024). Sau thời điểm xem xét thẩm định tại chổ, nếu gia đình ông Nguyễn Văn S tiếp tục lấn chiếm, dựng ki ốt, ... thì buộc phải tháo dỡ trả lại mặt bằng cho Công ty cổ phần G3 Do ông Nguyễn Văn S lấn chiếm, xây dựng trái phép nên Công ty cổ phần G2 không phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn S, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, buộc bị đơn phải chịu các chi phí tố tụng, trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn là ông Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên toà, Tòa án đã chuyển giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
Quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn S có đơn đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên những căn cứ ông S đưa ra không có cơ sở để chấp nhận.
[2] Xét về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn là Công ty cổ phần G2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn S phải trả lại cho Công ty cổ phần G2 diện tích đất 380,8 m2 mà ông Nguyễn Văn S đã lấn chiếm và buộc ông Nguyễn Văn S phãi dỡ bỏ phần xây dựng trái phép trên diện tích đất đã lấn chiếm, đây là quan hệ tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất. Các đương sự và tài sản tranh chấp là bất động sản cùng có địa chỉ tại khối A, phường N, thành phố V, Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. theo khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Công ty cổ phần G2 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn S phải trả lại cho Công ty cổ phần G2 diện tích đất 380,8 m2 mà ông Nguyễn Văn S đã lấn chiếm và buộc ông Nguyễn Văn S phãi dỡ bỏ phần xây dựng trái phép trên diện tích đất đã lấn chiếm.
Căn cứ để Công ty cổ phần G2 khởi kiện là Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (mã số dự án: 1765146353) do Sở K1 cấp lần đầu ngày 10/10/2014, ngày 15/7/2014 được UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 3279/QĐ.UBND-ĐTXD ngày 15/7/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư G tại xã N, thành phố V, ngày 22/5/2015 UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 2012 về việc Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư Golden City 5 tại xã N, thành phố V. Từ năm 2015 đến năm 2018 làm công tác chuẩn bị (thiết kế, bản vẽ). Ngày 21/8/2018 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 4954/QĐ-UBND về việc thu hồi đất tại xã N để thực hiện dự án: Khu dân cư G, xã N, thành phố V (đợt 1) (có thửa số 7, 10, 11 tờ bản đồ 25); Ngày 19/11/2019 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 6798/QĐ-UBND về việc thu hồi đất tại xã N để thực hiện dự án: Khu dân cư G, xã N, thành phố V (đợt 2 – 22 hộ gia đình, cá nhân) (có thửa số 10, 13 tờ bản đồ số 25); ngày 20/01/2021 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 434/QĐ-UBND về việc thu hồi đất tại xã N để thực hiện dự án: Khu dân cư G, xã N, thành phố V (đợt 2) (có lô số 12).
Như vậy cả 3 đợt thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện dự án nêu trên, tại các phụ lục kèm theo không có tên hộ gia đình Nguyễn Văn S.
Sau khi UBND thành phố V thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xác nhận đã hoàn thành kinh phí GPMB thực hiện dự án (cả 3 đợt), ngày 04/3/2021 UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 115/QĐ-UBND về việc cho Công ty Cổ phần G2 thuê đất tại xã N, thành phố V với thời hạn đến hết ngày 10/10/2064; ngày 10/3/2021 Công ty CP G2 được giao đất thực địa theo Biên bản lập ngày 10/3/2021 có đại diện Sở tài nguyên và môi trường, đại diện UBND xã N và đại diện Công ty CP G2 (đợt bàn giao có Lô KS631)
Theo kết quả đo đạc thực tế: ranh giới hiện trạng sử dụng của ông Nguyễn Văn S theo cắm mốc thực địa được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 có diện tích S = 541,1 m2, có 160,3 m2 nằm trong quy hoạch mở đường, còn lại S = 380,8 nằm trong phân khu thương mại dịch vụ. Như vậy, diện tích ông Nguyễn Văn S lấn chiếm và xây dựng các công trình trên diện tích đất 380,8 m2 của Công ty CP G2 được UBND tỉnh N cho thuê đất đến hết ngày 10/10/2064.
Quá trình giải quyết vụ án ông S cho rằng đất đang tranh chấp trước đây là bãi đất trống nham nhỡ, gia đình ông S đã phở hoang, đào chổ cao, lấp chổ thấp để làm lúa từ năm 1993 đến 2013 Bệnh viện đa khoa tỉnh N đi vào hoạt động, gia đình ông S dựng mấy ốt tạm để kinh doanh cà phê, cơm, cháo, phở (vật liệu dựng ốt tạm gồm: Khung sắt, tôn, bạt, cây cối), kinh phí xây dựng hết khoảng 700.000.000 đồng (không có hóa đơn chứng từ).
Căn cứ biên bản xác minh ngày 08/9/2023 tại UBND xã N: Ông Võ Thanh N – Phó chủ tịch cung cấp nội dung sau: “Ông Võ Thanh N trước đây làm công chức đô thị UBND xã N từ năm 2015 – 2020 và từ năm 2021 đến nay là Phó Chủ tịch phụ trách đô thị. Ngày 10/3/2021 Công ty CP G2 được UBND tỉnh N giao đất ngoài thực địa tại xã N, thành phố V, Nghệ An, tại thời điểm này Công ty CP G2 được quyền sử dụng để thực hiện các hoạt động xây dựng đầu tư dự án, sau đó phía Công ty G2 đã làm hàng rào bằng tôn bao quanh mặt đường C và mặt đường H. Sau đó một thời gian các hộ dân đã tự ý dỡ tấm tôn để lấy chổ kinh doanh từ đó đến nay. Trước thời điểm giao đất ông Nguyễn Văn S không có lều, ốt trên khu đất này. Từ tháng 12/2022 cho đến nay ông Nguyễn Văn S đã san lấp và dựng lều ốt trên phần đất đã giao cho chủ đầu tư. Quá trình ông S dựng lều đã bị chủ đầu tư nhắc nhở, yêu cầu tháo dỡ hoặc trả mặt bằng cho chủ đầu tư nhưng ông S không thực hiện. Việc ông Nguyễn Văn S san lấp, dựng lều ốt để kinh doanh buôn bán là vi phạm luật đất đai năm 2013 đó là hành vi chiếm đất: Biện pháp khắc phục: Buộc phải tháo dỡ công trình vi phạm trả lại mặt bằng ban đầu, không được bồi thường và phải chịu kinh phí tháo dỡ".
Tại Công văn số 01/HTX ngày 01/8/2023 của Hợp tác xã D T2 trả lời: “...2, Từ thời điểm thực hiện công văn số 5448/2013/CV-UBND ngày 25/11/2013 của UBND thành phố V về việc giải quyết vướng mắc trong việc giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho đến khi thực hiện công tác Bồi thường hỗ trợ GPMB dự án Golden City 5 cho các hộ dân có đất bị ảnh hưởng bởi dự án đến nay Hợp tác xã chưa nhận được đơn thư tranh chấp tại thửa đất số 10, 13 theo tờ bản đồ số 25 có địa chỉ tại xã N, thành phố V. Do đó Hợp tác xã không có hồ sơ tranh chấp lấn chiếm đất đai.
3, Trong sổ sách đất giao khoán ổn định cho nhân khẩu (khoán 10) xứ Đồng Cựa Mượu lưu tại đội sản xuất, tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 tại xã N, thành phố V sử dụng đất bà Hoàng Thị T và bà Nguyễn Thị T3 cùng sử dụng (bản đồ đo đạc năm 2001 đo chung thửa). Tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 25 tại xã N, thành phố V sử dụng bà Nguyễn Thị H (con ông Nguyễn Văn H1)...” (không có danh sách ông Nguyễn Văn S).
Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chổ, các công trình gia đình ông Nguyễn Văn S lấn chiếm và xây dựng trái phép trên diện tích 380,8 m2 để tự kinh doanh và cho các hộ gia đình kinh doanh gồm: Nhà lá nền xi măng trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 79, 1 m2; Ốt lợp tôn trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 12,6 m2; mái tôn trên thửa đất số 10, 13 tờ bản đồ 25 có tổng diện tích 166,7 m2; khu bếp lát gạch lợp tôn nằm trên thửa số 12, 13 tờ bản đồ số 25 có diện tích 25, 4 m2; nhà vệ sinh trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 5,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 17,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 12, tờ bản đồ 25 có diện tích 24, 4 m2; Ốt lợp tôn sàn gạch có diện tích 55,4 m2; 01 cây xoài đường kính 40cm trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25; 01 cây sanh đường kính 40 cm trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 25 (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ lập ngày 20/12/2024).
Vì vậy, cần buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn S phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 380,8 m2 (có sơ đồ kèm theo)
Buộc ông Nguyễn Văn S phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất lấn chiếm 380, 8 m2 gồm: Nhà lá nền xi măng trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 79, 1 m2; Ốt lợp tôn trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 12,6 m2; mái tôn trên thửa đất số 10, 13 tờ bản đồ 25 có tổng diện tích 166,7 m2; khu bếp lát gạch lợp tôn nằm trên thửa số 12, 13 tờ bản đồ số 25 có diện tích 25, 4 m2; nhà vệ sinh trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 5,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 17,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 12, tờ bản đồ 25 có diện tích 24, 4 m2; Ốt lợp tôn sàn gạch có diện tích 55,4 m2; 01 cây xoài đường kính 40cm trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25; 01 cây sanh đường kính 40 cm trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 25 (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ lập ngày 20/12/2024). Sau thời điểm xem xét thẩm định tại chổ, nếu gia đình ông Nguyễn Văn S tiếp tục lấn chiếm, dựng ki ốt, ... thì buộc phải tháo dỡ trả lại mặt bằng cho Công ty cổ phần G3
Do ông Nguyễn Văn S lấn chiếm, xây dựng trái phép nên Công ty cổ phần G2 không phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn S
Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần G2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001687 ngày 25/05/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh. Buộc ông Nguyễn Văn S phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ, chi phí định giá tài sản, chi phí đo đạc bằng máy tọa độ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), ông Nguyễn Văn S đã nộp 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn S hoàn lại số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) cho Công ty cổ phần G3
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng - Các Điều 166, 170, 175, điều 202, 203 Luật đất đai năm 2013, điều 260 Luật đất đai năm 2024 - Các Điều 166, 176 Bộ luật dân sự;
- Khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 259, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 về quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án; nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án va danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo).
Áp dụng Luật thi hành án dân sự
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần Golden City
Buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn S phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 380,8 m2 (có sơ đồ kèm theo)
Buộc ông Nguyễn Văn S phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất lấn chiếm 380, 8 m2 gồm: Nhà lá nền xi măng trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 79, 1 m2; Ốt lợp tôn trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25 có diện tích 12,6 m2; mái tôn trên thửa đất số 10, 13 tờ bản đồ 25 có tổng diện tích 166,7 m2; khu bếp lát gạch lợp tôn nằm trên thửa số 12, 13 tờ bản đồ số 25 có diện tích 25, 4 m2; nhà vệ sinh trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 5,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 13, tờ bản đồ 25 có diện tích 17,8 m2; nền gạch lát trên thửa đất số 12, tờ bản đồ 25 có diện tích 24, 4 m2; Ốt lợp tôn sàn gạch có diện tích 55,4 m2; 01 cây xoài đường kính 40cm trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 25; 01 cây sanh đường kính 40 cm trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 25 (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 20/12/2024). Sau thời điểm xem xét thẩm định tại chổ, nếu gia đình ông Nguyễn Văn S tiếp tục lấn chiếm, dựng ki ốt, ... thì buộc phải tháo dỡ trả lại mặt bằng cho Công ty cổ phần G3
Do ông Nguyễn Văn S lấn chiếm, xây dựng trái phép nên Công ty cổ phần G2 không phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn S
Thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần G2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001687 ngày 25/05/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh. Buộc ông Nguyễn Văn S phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ, chi phí định giá tài sản, chi phí đo đạc bằng máy tọa độ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), ông Nguyễn Văn S đã nộp 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn S hoàn lại số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng cho Công ty cổ phần G3
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự, người đại diện của đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: TAND tỉnh Nghệ An; VKSND tỉnh Nghệ An Viện KSND TP Vinh; Chi cục THADS TP Vinh Các đương sự; đại diện đương sự; Lưu HS, AV, VP. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Thái |
Bản án số 15/2025/DSST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ba Golden City -Sung
