|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/DSST
Ngày 11/6/2025
V/v “Tranh chấp chia thừa kế
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình.
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ, Ông Trần Minh Phương
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 11/6/2025 tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXX- ST, ngày 08/4/2025 giữa:
- + Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1945, trú tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1959. trú tại: Số A đường N, phường S, TP B đại diện (có mặt).
- + Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1941, trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- - Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, trú tại D, thị trấn P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- * Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn: Luật sư Vũ Văn X - Luật sư Công ty L3, địa chỉ A, đường N, phường S, TP B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm 1956; Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1944. Đều trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1945, trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh đại diện (có mặt).
- Ông Nguyễn Kim K, sinh năm 1952, trú tại: TP Hà Nội do ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1945, trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh đại diện (có mặt).
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn:
- Anh Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968, trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 trú tại: Xóm T, Thôn L, xã Đ, TX Q, tỉnh Bắc Ninh (có ý kiến xin vắng mặt).
- Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972, hiện đang cư trú làm ăn tại Trung Quốc, gia đình không rõ địa chỉ những vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với chị L1 (Chị L1 được niêm yết triệu tập hợp lệ vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1975, trú tại: Thôn H, N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do ông Đặng Văn T1- Chức vụ: Chủ tịch U, tỉnh Bắc Ninh đại diện (có ý kiến xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ý kiến trình bày của các đương sự nội dung vụ kiện tóm tắt như sau:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Kim B cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà D1, bà V, ông K trình bày: Bố mẹ các ông bà là cụ Nguyễn Kim R, sinh năm 1910 (chết ngày 22/01/1987) và cụ Phạm Thị H1, sinh năm 1912 (chết ngày 30/11/2000) có với nhau 5 người con chung là:
- Nguyễn Kim V2, sinh năm 1938 (đã chết ngày 29/8/2022);
- Nguyễn Thị V, sinh năm 1944;
- Nguyễn Kim B, sinh năm 1945;
- Nguyễn Kim K, sinh năm 1953;
- Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm 1956.
Ngoài 05 người con chung cụ R, cụ H1 không có con nuôi hay con riêng nào khác (Bố mẹ cụ R, cụ H1 đều đã chết và chết trước cụ R, cụ H1). Trong 05 người con chung như đã nêu hiện nay có ông Nguyễn Kim V2 đã chết, ông V2 chết ngày 29/8/2022.
Khi ông V2 còn sống, ông V2 kết hôn với bà Nguyễn Thị T. Ông V2, bà T có với nhau 05 người con chung là: Anh Nguyễn Tùng L, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L1, chị Nguyễn Thị V1, anh Nguyễn Văn C ( hiện 05 người con của ông V2 và bà T đều còn sống và đang cư trú tại Q, Bắc Ninh, riêng chị Nguyễn Thị L1 đã bỏ nhà sang Trung Quốc từ năm 1992 đến năm 2023 khi giỗ đầu ông V2 thì chị L1 có về thăm quê, sau đó chị Lê L2 đi sang Trung Quốc, hiện địa chỉ của chị Lê T2 không nắm được. Song chị L1 vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ và các anh chị em trong gia đình). Ngoài 05 người con chung như đã nêu, ông V2 không có con riêng, hay con nuôi.
Về di sản của cụ R, cụ H1 để lại: Khi cụ R, cụ H1 còn sống, hai cụ có tạo dựng được 4 thửa đất, quá trình sử dụng sau khi các con trưởng thành, xây dựng gia đình và ra ở riêng cụ R, cụ H1 đã chia 03 thửa đất cho các con là ông V2, bà V và ông B, trong đó chia cho ông V3 01 thửa đất có diện tích hơn 800m² (thửa đất này hiện nay đang do vợ chồng con trai cả của ông V2 là anh Nguyễn Tùng L sử dụng), chia cho bà V thửa đất có diện tích hơn 700m² và chia cho tôi (Nguyễn Kim B) thửa đất diện tích hơn 500m². Sau khi được bố mẹ cho đất như đã nêu các con là ông V2, ông B, bà V đều đã xây dựng nhà ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp, khiếu kiện gì.
Riêng thửa đất số 118, tờ bản đồ số, diện tích 925m² (trên đất có ngôi nhà cấp 4 ba gian và công trình phụ do bố mẹ là cụ R, cụ H1 quản lý. Theo ý nguyện của Cụ R, cụ H1 thửa đất này sau sẽ chia cho ông K và bà D1 (vì thời điểm đó cả ông K và bà D1 đều đi công tác thoát ly chưa có nhu cầu sử dụng đất). Năm 1987 cụ R chết, nhà đất do cụ H1 quản lý sử dụng theo ý nguyện của Cụ R, cụ H1 thửa đất này sau sẽ chia cho ông K và bà D1, quá trình cụ H1 quản lý, sử dụng vào năm 1996 do nhà và các công trình trên đất xuống cấp, hư hỏng ông Nguyễn Kim K là con thứ tư cùng anh em trong gia đình, đã bỏ tiền xây dựng lại thành ngôi nhà cấp bốn và các công trình phụ trên đất như hiện nay để cho mẹ là cụ H1 sử dụng. Sau khi ông K bỏ tiền làm lại nhà và các công trình xây dựng trên đất cho mẹ là cụ H1 sử dụng được một thời gian thì vợ chồng ông V2 có xảy ra mâu thuẫn và ông V2 có chuyển vào sống cùng mẹ là cụ H1 tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21. Năm 2000 cụ H1 chết nhà đất vẫn do ông V2 sử dụng. Năm 2005 khi địa phương có chủ trương làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm đó nhà đất đang do ông V2 quản lý, sử dụng nên ông V2 đã làm thủ tục kê khai và đề nghị UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 30/01/2007 UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đã cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 925m2. Sau khi được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 do bố mẹ để lại ông V2 tiếp tục quản lý, sử dụng, trong thời gian ông V2 quản lý sử dụng di sản ông V2 không đầu tư cải tạo các công trình trên đất nhà đất bố mẹ để lại vẫn nguyên vẹn. Năm 2022 ông V2 chết con trai ông V2 là anh Nguyễn Văn C thi thoảng có sang ở và dọn dẹp tuy nhiên trong thời gian con cái gia đình ông V2 quản lý, sử dụng di sản đã có hành vi ngăn không cho các anh chị em vào nhà thắp hương thờ cúng tổ tiên với lý do đất này khi còn sống bố mẹ ông bà đã chia cho ông V2. Nay ông B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà V, ông K, bà D1 xác định đất và các công trình trên đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 925m2 có địa chỉ tại Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh hiện đứng tên hộ ông Nguyễn Kim V2, bà Nguyễn Thị T trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản do cụ R, cụ H1 để lại đề nghị Tòa án:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/01/2007 cho hộ ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T.
- Chia di sản thửa kế do cụ R, cụ H1 để lại là quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ R, cụ H1 theo pháp luật.
Với căn cứ: Thửa đất số 118, tờ 21 cùng các công trình xây dựng trên đất là tài sản do cụ R, cụ H1 tạo dựng được và để lại sau khi chết; trước khi chết hai cụ không lập di chúc định đoạt tài sản; khi còn sống cụ R, cụ H1 đã chia cho ông V2 đất và thửa đất ông V2 được bố mẹ chia hiện nay đang do con trai ông là anh anh L quản lý, sử dụng.
Bị đơn là bà T, anh C và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là anh L, chị V1, chị H trình bày:
Về quan hệ gia đình: Cụ Nguyễn Kim R sinh năm 1910 (chết năm 1987) cụ Phạm Thị H1, sinh năm 2012 (chết năm 2000) và ông Nguyễn Kim V2 sinh năm 1938 chết năm 2022 là bố mẹ chồng và chồng của bà T và là bố đẻ của anh L, anh C, chị H, chị L1, chị V1.
Cụ R, cụ H1 kết hôn và sinh được 05 người con chung gồm: Ông Nguyễn Kim V2, sinh năm 1938 ( chết năm 2022); bà Nguyễn Thị V4, sinh năm 1944; ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1945, bà Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm 1956 và ông Nguyễn Kim K, sinh năm 1953. Ngoài 05 người con đẻ như đã nêu cụ R, cụ H1 khi còn sống còn nhận nuôi 7 người con nuôi cụ thể là:
- Ông D2, trú tại: Thôn P, xã Đ, TX Q, tỉnh Bắc Ninh;
- Ông Nguyễn Văn T3, trú tại: Thị Trấn T, huyện T, tỉnh Hưng Yên;
- Ông Đào Văn K1, trú tại: Chợ N, T, TP B,
- Ông H2, trú tại: Đ, TX Q, Bắc Ninh,
- Bà Nguyễn Thị P, trú tại: H, N, Q, Bắc Ninh;
- Ông K2, trú tại: Cầu T, N, Q, Bắc Ninh;
- Ông C1, trú tại: Đ, Q, Bắc Ninh (trong 7 người con nuôi hiện nay chỉ còn bà P là còn sống) trong 7 người con nuôi có ông D2 và bà P được cụ R, cụ H1 nhận nuôi khi mới lọt lòng, còn lại được hai cụ nhận nuôi khi 13-14 tuổi, trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng 7 người con nuôi được hai cụ chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành và dựng vợ gả chồng (nhận nuôi 7 người con nuôi không làm thủ tục đăng ký nhận con nuôi).
Bà T kết hôn với ông Nguyễn Kim V2 và có với nhau 5 người con chung là anh Nguyễn Tùng L, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị L1, chị Nguyễn Thị V1 và anh Nguyễn Văn C, ngoài 05 người con chung ông V2, bà T không có con nuôi hay con riêng. Trong 5 người con chung của ông V2, bà T thì hiện nay có chị Nguyễn Thị L1 đang cư trú tại Q, Trung Quốc, địa chỉ cụ thể của chị Lê tại Trung Quốc thì gia đình không nắm được nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng gia đình và chị L1 vẫn thường liên lạc với nhau qua điện thoại và mạng xã hội
Về nguồn gốc tài sản và quá trình quản lý tài sản của cụ R, cụ H1: Khi cụ R, cụ H1 còn sống cụ R, cụ H1 có một thửa đất, trên đất có một ngôi nhà ngói ba gian cùng công trình phụ tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (nguồn gốc đất do ông cha để lại), quá trình quản lý sử dụng khi các con trưởng thành, người xây dựng gia đình, người thoát ly công tác vào thời gian những năm 1960 khi ông V2, ông B lấy vợ, bà V lấy chồng, ông K, bà D1 công tác thoát ly khỏi gia đình cụ R, cụ H1 đã tách chia thửa đất làm 3 phần để chia cho bà V, ông B và ông V2, cụ thể: Chia cho bà V phần đất mà hiện nay gia đình bà V đang quản lý sử dụng, chia cho ông B phần diện tích đất hiện nay đang do gia đình ông B quản lý sử dụng, phần diện tích còn lại có ngôi nhà 3 gian cấp 4 và các công trình phụ do hai cụ làm (nay thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21) chia cho ông V2. Do ông V2 là con trai trưởng nên sau khi chia đất cho ông V2, hai cụ sống cùng gia đình ông V2 tại thửa đất đã chia cho vợ chồng ông V2 tại thửa đất số 118 và do vợ chồng ông V2 chăm sóc cho đến khi qua đời. Trong thời gian ông V2 quản lý sử dụng nhà đất do bố mẹ cho vào năm 1991 do ngôi nhà ngói ba gian cùng công trình trên đất hư hỏng xuống cấp nên ông V2, bà T đã dỡ bỏ nhôi nhà và công trình trên đất do cụ R cụ H1 làm và xây dựng ngôi nhà ngói ba gian và công trình xây dựng như hiện nay. Ông B trình bày nhà ở và công trình trên đất là do ông K bỏ tiền làm để cho cụ H1 ở là không đúng. Kể từ khi được cụ R, cụ H1 giao và chia đất, gia đình sử dụng ổn định không có tranh chấp, tiền thuế nhà đất hàng năm do ông Vĩnh Đ. Năm 2007, khi nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V2, bà T làm đơn kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, ngày 30/01/2007 ông V2, bà T được UBND huyện Q (nay là UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) cấp giấy chứng nhận công nhận được sử dụng thửa đất 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 925m2. Bà T, anh C, anh L, chị V1, Chị H cũng trình bày thửa đất hiện nay vợ chồng anh Nguyễn Tùng L đang quản lý sử dụng và đã được UBND thị xã Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận cho hộ anh Nguyễn Tùng L có quyền sử dụng hợp pháp là đất do HTX giao cho vợ chồng và gia đình ông V2, không phải đất do cụ R, cụ H1 chia cho ông V2.
Bà T, anh C, chị H, chị V1, anh L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B về việc xác định và chia di sản thừa kế do cụ R, cụ H1 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh với căn cứ: Thửa đất này khi cụ R, cụ H1 còn sống đã tách đất chia cho ông vợ chồng ông V2 và gia đình quá trình sử dụng đã được gia đình ông V2 quản lý sử dụng liên tục, ổn định và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 đứng tên ông V2, bà T nên đây không còn là di sản do thừa kế. Nếu những người thừa kế là ông B, ông K, bà V, bà D1 coi thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 là di sản của cụ R, cụ H1 để lại và yêu cầu chia thừa kế thì bà T, anh L, anh C đề nghị Tòa án cần xác định di sản thừa kế do cụ R, cụ H3 để lại không chỉ là thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 mà còn có các thửa đất số 99, tờ bản đồ số 21 hiện đang do gia đình ông Nguyễn Kim B quản lý sử dụng và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất số 98, tờ bản đồ số 21 hiện đang do gia đình bà Nguyễn Thị V quản lý sử dụng và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế đối với cả 3 thửa đất cho những người thừa kế thừa kế theo pháp luật. Vì theo quan điểm của bà T, anh C, anh L nguồn gốc thửa đất hiện nay đang do gia đình ông B và thửa đất đang do gia đình bà V sử dụng và đứng tên tên trên giấy chứng nhận cũng là đất của cụ R, cụ H1 để lại và chia cho khi còn sống giống như thửa đất số 118 đã chia cho ông V2. Sau khi nhận được đơn và ý kiến đề nghị của bà T, anh L anh C về việc xác định cả thửa đất hiện nay gia đình ông B và thửa đất hiện nay gia đình bà V đang quản lý sử dụng có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và yêu cầu chia thừa kế với 03 thửa đất gồm thửa đất đứng tên ông V2, thửa đất đứng tên ông B, và thửa đất đứng tên gia đình bà V Tòa án đã có nhiều văn bản gửi cho bà T, anh L, anh C hướng dẫn và yêu cầu đương sự làm đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập để Tòa án thụ lý giải quyết trong cùng vụ án song bà T và các con không làm đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập và cũng không đến Tòa án làm thủ tục phản tố hay thủ tục độc lập.
Ngoài ý kiến trình bày như đã nêu trước khi tòa án mở phiên tòa tại biên bản làm việc, ngày 20/5/2025 anh Nguyễn Văn C có đến Tòa án làm việc và trình bày ông nội anh là cụ Nguyễn Kim R chết năm 1987, bà nội anh là cụ H1 chết năm 2000, thửa đất số 118 là tài sản của cụ R cụ H1 khi còn sống đã tuyên bố miệng chia cho bố của anh là ông V2. Quá trình sử dụng sau khi ông bà mất thửa đất do bố anh là ông V2 quản lý sử dụng. Năm 2007 bố anh là ông Vĩnh mẹ anh là bà T đã làm đơn đề nghị và được UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tính từ ngày ông nội anh là cụ R chết đến ngày các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết nên anh C đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu chia thừa kế đối với di sản thừa kế do cụ Nguyễn Kim R để lại và không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn.
Để làm rõ việc nuôi và nhận con nuôi của cụ R, cụ H1 khi còn sống, Tòa án tiến hành làm việc với UBND xã N và làm việc với bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1933, trú tại: Thôn H, xã N, TX Q, tỉnh Bắc Ninh.
Theo UBND xã N cho biết UBND lưu giữ hay có bất cứ chứng cứ, tài liệu nào xác định khi cụ R, cụ H1 còn sống có việc đăng ký bất cứ ai làm con nuôi. Bà P cho biết: Bà con bà C2 (bà C2 là chị gái vợ cả của cụ R (cụ R và vợ cả không có con) nên sau khi mẹ bà là cụ C2 đi lấy chồng bà sống được vợ chồng cụ R và sau này là cụ H1 chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà P xác định ngoài chăm sóc nuôi dưỡng bà như con đẻ cụ R, cụ H1 không còn nhận hay nuôi thêm ai làm con nuôi. Anh C trình bày cụ R, cụ H1 có nhận ông D2, bà K3, ông T3, ông H4, ông K1 ông C1 làm con nuôi và 6 người này được hai cụ nhận và được hai cụ nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ cho đến khi trưởng thành xây dựng gia đình dựng vợ gả chồng là không đúng. Những người này do có quan hệ thân thiết thường xuyên đi lại với gia đình nên có nhận hai cụ là bố mẹ nuôi cho tình cảm thực tế cụ R, cụ H1 không có việc nhận và chăm sóc nuôi dưỡng ông D2, ông T3, ông K1 ông H2, bà K3, ông C1 như cha con, mẹ con. Bà P từ chối nhận tài sản của cụ R, cụ H1 để lại và từ chối tham gia tố tụng.
Ông Đặng Ngọc T4 đại diện cho UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh tại văn bản gửi cho Tòa án xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Q cho ông V2, bà T là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và có ý kiến xin vắng mặt trong các buổi làm việc và phiên tòa của Tòa án.
Đề làm rõ nguồn gốc, quá trình quản lý di sản do cụ R, cụ H1 để lại Tòa án đã làm việc và yêu cầu UBND xã N cung cấp sổ mục kê, đơn kê khai quyền sử dụng đất và tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, kết quả như sau:
Tiến hành xem xét, đo đạc, định giá tài sản là quyền sử dụng tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 đứng tên ông Nguyễn Kim V2 bà Nguyễn Thị T trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q (nay là UBND thị xã Q) cấp năm 2007 diện tích 925m² theo bản đồ địa chính đo đạc lại diện tích là 948m². Thấy qua đo đạc trên thực địa thửa đất diện tích là 949,7m² (tăng hơn so bản đồ đo đạc là 1,7m2 do lấn 1 phần diện tích đất công). Theo kết quả định giá của hội đồng định giá; đất có giá trị là 948m² x 15.000.000đ/m²=14.220.000.000đ; Về tài sản trên đất, trên đất có một số công trình xây dựng như nhà cấp 4 ba gian lợp ngói, bếp do công trình xây dựng đã hết khấu hao nên hội đồng định giá xác định giá trị là 0 đồng.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Đình D đại diện cho nguyên đơn, ông Nguyễn Kim B đại diện cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là bà V, ông K, bà D1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q nay là thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 30/01/2007 công nhận ông Nguyễn Kim V2, bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 925m² (nay theo xem xét thẩm định và đo đạc trên thực địa và bản đồ địa chính có diện tích là 948m2, với tổng giá trị là 948m² x 15.000.000đm² = 14.220.000.000đ. Xác định thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 948m² là di sản do cụ Nguyễn Kim R, sinh năm 1910 (chết năm 1987) và cụ Phạm Thị H1, sinh năm 1912 (chết năm 2000) để lại. Chia di sản là quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 cho những người thừa kế theo pháp luật là ông Nguyễn Kim B, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Nguyễn Kim V2 (do ông V2 chết năm 2022 nên phần di sản ông V2 được nhận sẽ do vợ và con của ông V2 là: Bà T, anh L, anh C, chị H, chị L1, chị V1 kế thừa nhận). Đối với tài sản trên đất là ngôi nhà ngói 3 gian cùng các công trình xây dựng trên đất và cây cối, lâm lộc đã hết khấu hao, giá trị thấp nên không yêu cầu chia thừa kế.
Với lý do: Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có nguồn gốc là tài sản chung của cụ R, cụ H1 tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân, sau khi 05 người con chung là ông V2, bà V, ông B, ông K, bà D1 khôn lớn trưởng thành người xây dựng ra đình, người thoát ly công tác có cuộc sống riêng và chỗ ở riêng, nhà đất do 02 cụ sử dụng, năm 1987 cụ R chết không để lại di chúc phân chia di sản, phần di sản là quyền sử dụng đất do cụ R để lại do cụ H1 tiếp tục quản lý. Năm 1993 do ngôi nhà cùng các công trình trên đất do hai cụ làm xuống cấp, hư hỏng, ông K, bà D1 và các anh, chị em trong gia đình đã bỏ tiền xây dựng lại ngôi nhà ngói 3 gian và các công trình trên đất như hiện nay để cho mẹ là cụ H1 ở. Sau khi làm xong nhà, năm 1988 do vợ chồng ông V2 bà T mâu thuẫn, vợ chồng ly thân nên ông V2 không chung sống cùng vợ con mà chuyển về sống cùng mẹ là cụ H1 tại ngôi nhà ngói ba gian trên thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21. Tuy ông Vĩnh C3 về sống cùng mẹ là cụ H1 nhưng chỉ sống chung nhà, song cụ H1 và ông Vĩnh ăn riêng chứ không ăn chung. Tháng 11/2000 cụ H1 chết và không để lại di chúc, sau khi cụ H1 chết nhà đất do ông V2 tiếp tục quản lý, sử dụng. Trong thời gian ông V2 quản lý di sản do bố mẹ để lại ông V2 không đầu tư xây dựng, hay cải tạo công trình gì trên đất, trong thời gian ông V2 quản lý sử dụng đất vào thời gian năm 2018 ông V2 và các con là anh C, anh L có tân lấp phần diện tích đất ao, năm 2022 ông V2 chết nhà đất do con trai út của ông V2 là anh Nguyễn Văn C thi thoảng qua lại trông nom, quản lý.
Bị đơn là anh C, bà T, người bảo vệ quyền lợi cho anh C, bà T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là anh L, chị V1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim B thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đúng là đất là do cụ R, cụ H1 để lại, các đương sự xác định cụ R cụ H1 có 5 người con chung là ông V2, ông B, ông K, bà V và bà D1, ngoài 5 người con chung 02 cụ còn nuôi 01 người cháu là bà Nguyễn Thị P từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành, ngoài 05 người con chung và 01 người cháu nuôi như đã nêu hai cụ không có con nuôi, hay con riêng nào khác, các đương sự thừa nhận khi còn sống và sau khi chết cụ R, cụ H1 không lập di chúc định đoạt tài sản. Về nguồn gốc quá trình sử dụng nhà, đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 có nguồn gốc là đất của cụ R, cụ H1, những người có quyền lợi liên quan đứng về phía ông B cho rằng thửa đất số 118 là di sản thừa kế và yêu cầu chia thừa kế là không có căn cứ bởi: Khi còn sống cụ R, cụ H1 đã nói miệng giao và chia nhà đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 cho ông V2 và gia đình ông V2, năm 1993 do ngôi nhà cùng công trình xây dựng trên đất xuống cấp ông V2 bà T đã đầu tư xây dựng lại nhà ở và công trình trên đất như hiện nay. Sau khi cụ H1 chết nhà đất do ông V2 và gia đình ông V2 quản lý, sử dụng đã kê khai quyền sử dụng đất và năm 2007 ông V2 bà T đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận công nhận có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất song anh em trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, các đương sự đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu chia thừa kế đối với phần di sản do cụ R để lại từ đó đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B.
Trong phần tranh luận ông D đại diện cho ông B không đồng ý với quan điểm của bị đơn cho rằng thời hiệu chia di sản do cụ R để lại đã hết với lý do sau khi cụ R chết phần di sản do cụ R để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng do cụ H1 tiếp tục quản lý sử dụng cho đến khi cụ H1 chết, trong thời gian cụ H1 quản lý, sử dụng không ai có yêu cầu khởi kiện chia thừa kế, không có khiếu kiện tranh chấp gì nên theo quy định tại Điều 236 của BLDS phần di sản của cụ R để lại được xác lập quyền sử dụng cho cụ H1.
Bị đơn người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và những người có quyền lợi liên quan đứng về phía bị đơn giữ nguyên quan điểm, không đồng ý với ý kiến trình bày của người đại diện cho nguyên đơn cho rằng phần di sản do cụ R để lại được xác lập quyền sở hữu cho cụ H1, theo quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn phần di sản là quyền sử dụng đất do cụ R để lại đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện, sau khi hết thời hiệu khởi kiện phần di sản thừa kế do hết thời hiệu khởi kiện do người thừa kế là ông V2 trực tiếp quản lý, sử dụng nên theo quy định của pháp luật về xác lập quyền sở hữu thì ông V2 có quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với tài sản do cụ R để lại.
Tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá việc chấp hành và thực hiện pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án và các thành viên hội đồng xét xử, việc chấp hành các quyền và nghĩa vụ của các đương sự đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh đề nghị áp dụng Điều 34 khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 146, 147, 151, 156, 157, 165, 166, Điều 219, 244 điểm b khoản 1 Điều 227, 228, 235, 271, 273 BLTTDS. Căn cứ Điều 33 luật hôn nhân gia đình, Điều 207, 209, 210, 212, 213, 218, 219, 221, 609, 610, 611, 612, 613, 616, 617, 618, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của BLDS; Điều 166, 167, 188 của luật đất đai 2013; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 20/12/6/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí tòa án, xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim B về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ Phạm Thị H1.
- Không chấp nhận yêu cầu và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Kim B về việc chia di sản là quyền sử dụng 1/2 diện tích thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, tường ứng 474m² của cụ Nguyễn Kim R sinh năm 1910 (chết ngày 22/01/1987) để lại vì hết thời hiệu khởi kiện.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) cấp ngày 30/01/2007 công nhận ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có diện tích đo đạc thực tế là 948m². Xác nhận di sản của cụ Phạm Thị H1 để lại sau khi chết là 1/2 diện tích của thửa đất số 118, tờ đồ 21, tương ứng 474m² có giá trị là: 7.110.000.000₫
- Sau khi trích trả công sức quản lý, trông nom, tân tạo di sản cho người quản lý di sản là ông Nguyễn Kim V2 (nay do vợ và con ông V2 đại diện nhận) bằng một xuất thừa kế theo luật (tưởng ứng 79m² đất). Di sản thừa kế của cụ Phạm Thị H1, sinh năm 1912 (chết ngày 30/11/2000) còn là: 474m² - 79m² = 395m² (có giá trị là 395m² x 15.000.000đ/m² = 5.925.000.000đ) nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chia di sản là quyền sử dụng 395m² đất (có giá trị là 5.925.000.000đ) do cụ Phạm Thị H1 để lại cho 05 người thừa kế theo pháp luật là: Ông Nguyễn Kim B, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Nguyễn Kim V2 (do ông V2 đã chết nên người thừa kế của ông V2 là bà T, anh L, anh C, chị H, chị L1, chị V1 kế thừa nhận), với diện tích mỗi kỷ phần thừa kế được nhận là: 395m² : 5 = 79m² (có giá trị là 1.185.000.000đ/người), cụ thể:
- 3.1 Ông Nguyễn Kim B, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Kim D1 mỗi người được nhận: 79m2 nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
- 3.2. Bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Tùng L, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị V1, chị Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị L1 được nhận phần diện tích còn lại của thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 với diện tích là 632m², trong đó có: 474m² đất do xác lập quyền sử dụng theo thời hiệu, 79m² đất là do được trích trả công sức trông nom, quản lý, tân tạo di sản và 79m² đất là do được nhận di sản do cụ H1 để lại (có sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Tòa án giải quyết chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Sau khi xem xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến trình bày và đề nghị của các đương sự, người đại diện của các đương sự, người bảo vệ quyền lợi của các đương sự.
[1]. Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Kim B, ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị Kim D1 thấy: Ông B, ông K, bà V, bà D1 đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 948m², có giá trị là 14.220.000.000₫ đứng tên ông Nguyễn Kim V2, bà Nguyễn Thị T trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp năm 2007 có địa chỉ tại Thôn H, xã N, TX Q tỉnh Bắc Ninh là di sản do cụ Nguyễn Kim R, cụ Phạm Thị H1 để lại sau khi chết. Yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng do UBND huyện Q và công nhận cho ông V2, bà T được sử dụng hợp pháp thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 chia di sản thừa kế là thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Với căn cứ: thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 là di sản do cụ R, cụ H1 để lại, trước khi cụ R cụ H1 chết cụ R cụ H1 không lập di chúc định đoạt phân chia di sản. Sau khi xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp của các bên là "Tranh chấp kiện chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Căn cứ thời hiệu chia thừa kế và thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án được qui định tại các điều Điều 623 BLDS; Điều 34, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 37, Điều 39 của BLTTDS Điều 30 Luật tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
Tòa án đã thông báo và triệu tập hợp lệ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H, chị L1 và đại diện UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh tham gia tố tụng song tại phiên tòa chị H, chị L1 vắng mặt không có lý do chính đáng hay vì sự kiện bất khả kháng, đại diện của UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của BLTTDS Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự đồng thời công bố lời khai, ý kiến trình bày của đương sự vắng mặt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là ông B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là bà V, ông K, bà D1, bị đơn là bà T, anh C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là anh L, chị H, chị V1 đều thừa nhận thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 diện tích 925m² đứng tên ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp năm 2007 diện tích 925m² nay theo bản đồ đo đạc chỉnh lý và kết quả đo đạc theo diện tích bản đồ được chính lý có diện tích 948m² là tài sản chung của cụ Nguyễn Kim R, sinh năm 1910 (chết ngày 22/01/1987) và cụ Phạm Thị H1, sinh năm 1912 (chết ngày 30/11/2000) tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự thừa nhận cụ R, cụ H1 có 05 người con chung là ông Nguyễn Kim V2, sinh năm 1938 (chết năm 2022) bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim B, ông Nguyễn Kim K và bà Nguyễn Thị Kim D1 và 01 người cháu nuôi được cụ R, cụ H1 nuôi dưỡng chăm sóc từ nhỏ cho đến khi trưởng thành là bà Nguyễn Thị P, ngoài 05 người con chung và một người cháu nuôi hai cụ không có con riêng, hay con nuôi nào khác. Các đương sự cũng thừa nhận sau khi cụ R, cụ H1 chết không lập di chúc định đoạt, phân chia di sản thừa kế, xét thấy đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS.
Quá trình tố tụng, bị đơn, người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn không đồng ý với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho rằng thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 là di sản do cụ R, cụ H1 để lại với căn cứ: Khi cụ R, cụ H1 còn sống vào những năm 1960 khi các con là bà V, ông B, ông V2 lấy chồng, lấy vợ hai cụ đã cắt chia và giao cho mỗi người phần diện tích nằm trong thửa đất mà hai cụ đã tạo dựng được, trong đó đã giao cho vợ chồng và gia đình ông V2 nhà, đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, khi giao và chia đất cho các con các cụ chỉ nói miệng. Song quá trình sử dụng, năm 2005 ông V2, bà T đã làm thủ tục kê khai đăng ký biến động về đất đai và năm 2007 được UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét ý kiến trình bày của các đương sự đã nêu, đủ cơ sở khẳng định thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, diện tích 948m² có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là tài sản do vợ chồng cụ R, cụ H1 tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình 1959, Điều 29, 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là tài sản chung của cụ R, cụ H1.
Bị đơn, người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 là tài sản chung do cụ R, cụ H1 tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân, song không đồng ý với quan điểm và yêu cầu của nguyên đơn cho rằng đây là di sản do cụ R, cụ H1 để lại với ý kiến trình bày: Khi các con trưởng thành xây dựng gia đình, vào năm 1967 cụ R, cụ H1 đã cắt chia đất cho các con, trong đó cắt chia cho vợ chồng ông V2 thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, sau khi được bố mẹ giao và chia đất do ông V2 là con trưởng nên sống chung cùng bố mẹ, năm 1978-1979 vợ chồng được địa phương giao cho thửa đất mà hiện nay vợ chồng anh L đang quản lý sử dụng. Gia đình chuyển ra ngoài sống tại thửa đất do địa phương chia, nhà đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 bố mẹ đã chia cho vợ chồng do cụ R, cụ H1 quản lý. Năm 1987 cụ R chết, sau khi cụ R chết ông V2 chuyển về sống cùng mẹ, năm 2000 sau khi mẹ là cụ H1 chết nhà, đất do ông V2 tiếp tục quản lý sử dụng, trong thời gian ông V2 quản lý sử dụng ông V2 đã kê khai quyền sử dụng đất và năm 2007 ông V2 bà T được UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nhận thấy, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cho rằng khi bố mẹ là cụ R, cụ H1 còn sống, bố mẹ đã cắt chia đất giao cho vợ chồng, gia đình bị đơn nhà, đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 song không xuất trình được chứng cứ, tài liệu chứng minh khi cụ R, cụ H1 còn sống đã giao và chia đất cho vợ chồng và gia đình bị đơn nên theo nội dung được hướng dẫn của Án lệ số: 03/2016/AL năm 2016 của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao để chứng minh bố mẹ còn sống đã tặng cho nhà đất trên thực tế, bị đơn và gia đình bị đơn cũng không xuất trình được bất cứ chứng cứ, tài liệu nào chứng minh sau khi cụ R, cụ H1 chết những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật do cụ R, cụ H1 để lại đã từ chối nhận di sản và đồng ý giao cho ông V2, gia đình ông V2 có quyền quản lý, sử dụng di sản do cụ R, cụ H1, cụ H1 để lại.
Bà T, anh C, anh L, chị V1, chị H có chung quan điểm cho rằng sau khi cụ R chết năm 1989 ông V2 chuyển vào sống chung cùng cụ H1, cùng cụ H1 quản lý, sử dụng phần di sản là quyền sử dụng đất do cụ R để lại, sau khi cụ H1 chết toàn bộ di sản là quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 do ông V2 trực tiếp quản lý, sử dụng trong thời gian quản lý sử dụng ông V2 đã kê khai đứng tên quyền sử dụng đất, năm 2005 ông V2, bà T làm đơn đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ngày 30/01/2007 ông V2, bà T được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất công nhận cho ông V2 bà T được sử dụng hợp pháp thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21. Xét việc kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V2, bà T đối với quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 hội đồng xét xử thấy: Việc kê khai quyền sử dụng đất và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đối với di sản do cụ R, cụ H1 để lại là thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 được thực hiện sau khi người để lại di sản đã chết.
Xét trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Q và công nhận cho ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 thấy: Ngày 30/01/2007 UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận cho ông V2, bà T có quyền sử dụng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do cụ R, cụ H1 để lại theo đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Kim V2 lập năm 2005, tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V2 kê khai nguồn gốc đất do ông cha để lại, ngoài đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V2 không gửi kèm hay xuất trình được giấy tờ, tài liệu gì chứng minh là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với di sản. Việc UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh năm 2007 khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích của thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, là chưa tuân thủ đúng căn cứ, thủ tục quy định tại các Điều 49, 50 và Điều 123 của Luật đất đai năm 2003, đã xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của những người được nhận di sản thừa kế. Nay ông Nguyễn Kim B là một trong những người được hưởng và nhận di sản thừa kế yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q (nay là UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) cấp và công nhận cho ông V2 bà T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 và yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 là tài sản chung và là di sản do cụ Nguyễn Kim R và cụ Phạm thị H1 để lại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Xét thời điểm mở thừa kế, diện, hàng thừa kế và quyền hưởng di sản của các thừa kế thấy:
+ Cụ Nguyễn Kim R, sinh năm 1910 (chết ngày 22/01/1987), trước khi chết cụ không lập và để lại di chúc định đoạt phân chia di sản của mình nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng cho những người thừa kế. Theo quy định của pháp luật phần di sản của cụ Nguyễn Kim R để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng 1/2 diện tích của thửa số 118, tờ bản đồ số 21, có diện tích là: 948m² : 2 = 474m² (có giá trị là 474m² x 15.000.000đ/m² = 7.110.000.000₫), có địa chỉ tại Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh sẽ được chia cho những người thừa kế còn sống là cụ H1, bà P, ông V2, ông B, bà V, bà D1, ông K. Tuy nhiên sau khi cụ R chết các thừa kế không yêu cầu chia thừa kế, phần di sản là 474m² đất nằm trong thửa đất số 118 do cụ R để lại do cụ Phạm Thị H1 quản lý, năm 2000 cụ H1 chết, phần di sản này tiếp tục do ông Nguyễn Kim V2 là con trai trưởng của cụ R, cụ H1 quản lý, sử dụng cho đến khi ông V2 chết vào năm 2022. Sau khi ông V2 chết đến năm 2023 ông Nguyễn Kim B mới có yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Kim R để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản là bất động sản được quy định tại Điều 623 của BLDS 2015, Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, Nghị quyết số: 02/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh về thừa kế" thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ R để lại được tính từ ngày Pháp lệnh thừa kế được công bố (tức là ngày 10/9/1990), theo quy định về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế được quy định tại khoản 1 Điều 623 của BLDS "Thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế". Như vậy đến hết ngày 10/9/2020 thì thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ Nguyễn Kim R chết năm 1987 đã hết. Nay bị đơn và người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản do cụ Nguyễn Kim R để lại từ đó đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản do cụ Nguyễn Kim R sinh năm 1910 (chết năm 1987) là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 623 của BLDS, Điều 219 và Điều 244 của BLTTDS Tòa án đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu của ông Nguyễn Kim B về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Kim R.
Theo quy định của pháp luật quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu được quy định tại các Điều 8, 121, 236 và Điều 623 của BLDS, thì thấy sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần di sản là quyền sử dụng đất do cụ Nguyễn Kim R để lại, phần di sản do cụ R để lại là 474m² đất nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 có địa chỉ tại Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do con trai cụ R là ông Nguyễn Kim V2 quản lý, sử dụng. Do vậy theo quy định về xác lập quyền sở hữu thì phần di sản do cụ Nguyễn Kim R để lại là 474m² đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Kim V2 nay ông V2 đã chết thì thì quyền quản lý sử dụng với diện tích đất này do vợ và các con của ông V2 là: Bà T, anh L, anh C, chị H, chị L1, chị V1 được kế thừa quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.
+ Đối với phần di sản 1/2 diện tích thửa đất do cụ Phạm Thị H1 để lại, tương ứng 474m² nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 thấy: Ngày 30/11/2000 cụ H1 chết, khi chết cụ H1 không lập di chúc định đoạt, phân chia di sản cho người thừa kế, phần di sản do cụ H1 để lại do con trai trưởng là ông Nguyễn Kim V2 quản lý, sử dụng. Nay ông Nguyễn Kim B với tư cách là người được nhận di sản thừa kế của cụ H1 theo pháp luật yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ H1 để lại cho những người thừa kế theo pháp luật thấy là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 649, 650, 651, 660 của BLDS cần chấp nhận. Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng 474m² đất nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cho những người thừa kế theo pháp luật còn sống vào thời điểm mở thừa kế gồm: Ông Nguyễn Kim V2, ông Nguyễn Kim B, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị V, Ông Nguyễn Kim K và bà Nguyễn Thị Kim D1. Tuy nhiên quá trình tố tụng bà P có ý kiến từ chối nhận di sản nên phần di sản do cụ Phạm Thị H1 sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất có nhu cầu nhận di sản là: Ông B, bà V, ông K, bà D1 và ông V2 (Nay do ông V2 đã chết nên người thừa kế của ông V2 là bà T, anh L, anh C, chị H, chị V1, chị Lê N).
Tuy nhiên, trước khi phân chia di sản là quyền sử dụng 474m² đất do cụ Phạm Thị H1 để lại nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 do ông V2 và gia đình ông V2 trông nom quản lý, trong thời gian ông V2 và gia đình trông nom quản lý ngoài thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà đất hàng năm gia đình ông V2 còn bỏ công sức, tiền bạc tân lấp làm tăng giá trị di sản. Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho ông V2 và gia đình thấy trước khi chia di sản do cụ H1 để lại cần căn cứ quy định tại các Điều 616, 617, 618 của BLDS trích trả cho ông V2 và gia đình ông V2 công sức quản lý, tân tạo di sản với mức trích trả bằng một suất thừa kế theo pháp luật, tương ứng giá trị quyền sử dụng đất được trích trả là: 474m² : 6 = 79m².
Sau khi trích trả công sức quản lý di sản cho vợ, con ông Nguyễn Kim V2, di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị H5 để lại còn là: 474m² - 79m² = 395m² (có giá trị theo kết luận định giá là 395m² x 15.000.000đ/m2 = 5.925.000.000đ) sẽ được chia cho những người thừa kế có nhu cầu nhận di sản là: Ông Nguyễn Kim B, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Nguyễn Kim V2 (do ông V2 chết phần di sản do ông V2 được nhận nếu còn sống sẽ do bà T, anh L, anh C, chị H, chị V1 và chị L1 là vợ và các con ông Vĩnh nhận), cụ thể mỗi thừa kế được nhận phần diện tích đất nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do cụ Phạm Thị H1 để lại là: 395m² : 5= 79m² ( tương ứng mỗi thừa kế được nhận giá trị di sản là: 5.925.000.000đ : 5 = 1.185.000.000đ/người).
Như vậy các thừa kế được nhận quyền sử dụng đất nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 có địa chỉ tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cụ thể như sau:
- Ông Nguyễn Kim B, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị Kim D1 mỗi người được nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là: 79m² (có sơ đồ kèm theo).
- Bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Tùng L, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị V1, chị Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị L1 là vợ và các con của ông Nguyễn Kim V2 được nhận tổng diện tích 632m² nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, trong đó có: 474m² đất do xác lập quyền sử dụng theo thời hiệu, 79m² đất là do được trích trả công sức trông nom, quản lý, tân tạo di sản và 79m² đất là do được nhận di sản thừa kế do cụ H1 để lại (có sơ đồ kèm theo).
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 34 khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 146, 147, 151, 156, 157,165, 166, Điều 219, 244 điểm b khoản 1 Điều 227, 228, 235, 271, 273 BLTTDS. Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân gia đình, Điều 207, 209, 210, 212, 213, 218, 219, 221, 609, 610, 611, 612, 613, 616, 617, 618, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của BLDS; Điều 166, 167, 188 của luật đất đai 2013; Điều 49, 50 và Điều 123 Luật đất đai năm 2003, Quy định số: 32/QĐ- UBND ngày 2024 của UBND tỉnh B quy định về chia tách thửa đất; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí tòa án, xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim B về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ Phạm Thị H1.
- Không chấp nhận yêu cầu và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Kim B về việc chia di sản là quyền sử dụng 1/2 diện tích thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, tương ứng 474m² của cụ Nguyễn Kim R sinh năm 1910 (chết ngày 22/01/1987) để lại do hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế..
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) cấp ngày 30/01/2007 công nhận ông Nguyễn Kim V2 và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 118, tờ bản đồ 21, có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận di sản của cụ Phạm Thị H1 để lại sau khi chết là 1/2 diện tích của thửa đất số 118, tờ bản đồ 21 có diện tích là: 474m² (có giá trị theo kết luận định giá là: 7.110.000.000₫).
- Sau khi trích trả công sức quản lý, trông nom, tân tạo di sản cho người quản lý di sản là ông Nguyễn Kim V2 (nay do vợ và con ông V2 đại diện nhận) bằng một suất thừa kế theo luật (tương ứng 79m² đất). Di sản thừa kế của cụ Phạm Thị H1, sinh năm 1922 (chết ngày 30/11/2000) để lại còn là: 474m² - 79m² = 395m² (có tổng giá trị có giá trị 395m² x 15.000.000đ/m² = 5.925.000.000₫) nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chia di sản là quyền sử dụng 395m² đất (có giá trị là 5.925.000.000đ) của cụ Phạm Thị H1 để lại cho 05 người thừa kế theo pháp luật là: Ông Nguyễn Kim B, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Nguyễn Kim V2 (do ông V2 đã chết nên người thừa kế của ông V2 là bà T, anh L, anh C, chị H, chị L1, chị V1 kế thừa nhận), với diện tích của mỗi kỷ phần thừa kế được nhận là: 395m² : 5 = 79m² (tương ứng mỗi kỷ phần thừa kế được nhận giá trị là 1.185.000.000đ/người), cụ thể:
- 3.1 Ông Nguyễn Kim B, ông Nguyễn Kim K, bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Kim D1 mỗi người được nhận 79m² nằm trong thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
- 3.2. Ông Nguyễn Kim V2 (do bà T, anh L, chị H, chị V1, chị L1, anh C đại diện nhận) phần diện tích còn lại của thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21 có địa chỉ tại: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là: 632m², trong đó: Phần hưởng di sản của cụ R để lại do hết thời hiệu khởi kiện là 474m²; Phần được trích trả công sức trông nom, quản lý, tân tạo di sản là: 79m²; Phần được nhận di sản thừa kế do cụ H1 để lại là: 79m² (có sơ đồ kèm theo).
- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ quyết định của bản án. Những người được chia và nhân di sản là quyền sử dụng đất có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai để làm thủ kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với phần đất được chia theo quy định của pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng:
- + Về án phí: A, chị H, chị L1, chị V1, anh C mỗi người phải chịu 7.925.000đ án phí DSST; Miễn số tiền án phí DSST phải nộp cho bà T, ông K, ông B, bà V, bà D1.
- + Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Quá trình giải quyết vụ án ông B yêu cầu tòa án xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 21, ông B nộp tiền tạm ứng chi phí là: 15.000.000đ, thực tế chi phí hết 15.000.000đ. Ông B yêu cầu những người được hưởng di sản phải hoàn trả cho ông số tiền chi phí tố tụng đã ứng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy cần buộc ông K, bà D1, bà V mỗi người phải thanh toán hoàn trả cho ông B tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản là: 3.000.000đ/người; Buộc bà T, anh L, anh C, chị H, chị V1, chị Lê P1 liên đới thanh toán hoàn trả cho ông Bảng số tiền chi phí thẩm định và định giá là: 3.000.000đ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt UBND thị xã Q, chị L1, chị H quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Kỹ Trần Minh Phương |
Đỗ Thế Bình |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thế Bình |
Bản án số 15/2025/DSST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp chia thừa kế hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim Bảng, sinh năm 1945; Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thơ, sinh năm 1941
