Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng bảo

hiêm".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi.
  2. Bà Nguyễn Thị An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST- DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 07/2025/TB-TA ngày 26 tháng 6 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Tổng công ty B

Địa chỉ trụ sở: Tầng B, tòa nhà P, Lô V, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Đ - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đàm Ngọc V, ông Ngô Xuân T, ông Đào Chiến T1, ông Hoàng Minh Q (Theo Văn bản uỷ quyền số 143/UQ-PVIBH ngày 17/6/2024). Ông Đàm Ngọc V, ông Ngô Xuân T có mặt.

2. Bị đơn: Ban B hạ tầng thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ trụ sở: Tầng D, số G T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Q1 - Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Kho bạc Nhà nước Khu vực V.

Địa chỉ: số F, đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy H – Chức vụ: Giám đốc Kho bạc Nhà nước Khu vực V1; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Minh Đ1 – Chức vụ Trưởng phòng Giao dịch số 9; Người đại diện theo uỷ quyền lại: Bà Nguyễn Thị Thu P – Chức vụ Phó Trưởng phòng Giao dịch số 9 thuộc Kho bạc Nhà nước khu vực V. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/6/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 12/02/2015, Tổng công ty B (sau đây gọi tắt là Bảo hiểm PVI) tham gia đấu thầu và trúng thầu gói thầu: "Bảo hiểm công trình cầu vượt sông T, thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình: Đường vành đai phía Nam thành phố T, công trình: Cầu vượt sông T theo quyết định số 931/QĐ-UBND của UBND thành phố T. Ngày 14/3/2015, Bảo hiểm B và Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B (sau đây gọi tắt là Ban B) đã tiến hành ký kết Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số: C03/BHKT/06/09/15 về việc "Bảo hiểm công trình cầu vượt sông T, thuộc dự án đường vành đại phía Nam thành phố T" ("Hợp đồng bảo hiểm")với các nội dung chính như sau:

"Thời hạn bảo hiểm: kể từ ngày khởi công, thi công xây dựng gói thầu lắp công trình Cầu vượt sông T đến khi hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng (dự kiến 25 tháng) và 24 tháng bảo hiểm bảo hành, tính từ ngày bàn giao đưa vào sử dụng. Tổng phí bảo hiểm: 2.512.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm: Kỳ 1: Thanh toán 300.000.000 đồng trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Các kỳ tiếp theo: Thanh toán phần còn lại theo tiến độ bố trí kế hoạch vốn của Chủ đầu tư cho gói thầu bảo hiểm. Tổng phí bảo hiểm phải được thanh toán trước thời hạn cuối cùng của hợp đồng bảo hiểm."

Ngày 22/5/2015, Ban quản lý dự án đã thanh toán phí Bảo hiểm kỳ 1 cho Bảo hiểm PVI với số tiền 300.000.000 đồng. Đến nay, Ban quản lý dự án không thực hiện trách nhiệm thanh toán phí bảo hiểm kì 2 cho Bảo hiểm PVI.

Ngày 22/11/2021, UBND tỉnh T phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành theo Quyết định số 2905/QĐ-UBND, trong đó xác định khoản phí Bảo hiểm còn phải trả Tổng công ty B số tiền: 2.212.000.000 đồng;

Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền; Điểm a khoản 1 Điều 17, điểm a khoản 1 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm; Khoản 2, Điều 7 của Hợp đồng bảo hiểm số CO3/BHk 1/105/09/15, ngày 14/3/2015 quy định trách nhiệm của Bên A (Ban Quản lý) như sau: "- Bên A có trách nhiệm thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn theo quy định tại điều 3 của Hợp đồng này cho Bên B nên Bảo hiểm PVI đề nghị Tòa án buộc Ban quản lý dự án thanh toán khoản tiền 2.212.000.000 đồng cho Bảo hiểm B. Việc Kho bạc Nhà nước không thanh toán là việc hành chính giữa Kho bạc với Ban quản lý dẹ án không liên quan đến Bảo hiểm PVI.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B, tỉnh Thái Bình trình bày:

Ngày 14/3/2015 Ban B có ký kết Hợp đồng bảo hiểm như Bảo hiểm PVI trình bày. Ngày 22/5/2015, Ban quản lý dự án thanh toán cho Bảo hiểm PVI số tiền phí là 300.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 2.212.000.000 đồng hiện tại Ban quản lý dự án chưa thanh toán cho Bảo hiểm PVI. Thời hạn bảo hiểm: Kể từ ngày khởi công thi công xây dựng gói thầu xây lắp công trình cầu vượt sông T (bao gồm cầu, đường dẫn, thiết bị, bảo đảm ATGT, điện chiếu sáng, điện trang trí) đến khi hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng (dự kiến 25 tháng), và 24 tháng bảo hiểm bảo hành tính từ ngày bàn giao công trình đưa vào sử dụng theo điều khoản bổ sung (ĐKBS) MR 004. Theo Biên bản bàn giao công trình đưa vào quản lý, vận hành và bảo trì ngày 19/7/2019, thì ngày hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng công trình cầu vượt sông T thuộc dự án đầu tư xây dựng đường vành đai phía Nam thành phố T, công trình cầu vượt sông T là ngày 19/7/2019. Ngày 22/11/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh T ra Quyết định số 2905/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quyết toán dự án hoàn thành: Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai phía Nam thành phố T, công trình: Cầu vượt sông T.

Ngày 26/9/2022, Ban quản lý dự án làm thủ tục thanh toán số tiền còn lại trên để trả cho Bảo hiểm PVI, ngày 30/9/2022 Kho bạc nhà nước tỉnh T từ chối thanh toán. Đến ngày 18/11/2022, Kho bạc nhà nước T có công văn số 987/KBTB-KSC nêu lý do từ chối thanh toán chi phí cho hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15:“Chủ đầu tư đề nghị thanh toán khi hợp đồng bảo hiểm đã hết thời hạn bảo hiểm quy định trong hợp đồng; không phù hợp quy định: “Tổng phí bảo hiểm phải được thanh toán trước thời hạn cuối của hiệu lực hợp đồng” quy định tại Điều 3, hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15"

Về phương án chưa thanh toán cho Bảo hiểm PVI: Do Ban quản lý chỉ là đại diện của chủ đầu tư. Đồng thời, phụ thuộc vào nguồn vốn bố trí cho dự án từ ngân sách nhà nước. Ngày 18/11/2022, Kho bạc nhà nước tỉnh T đã có công văn số 987/KBTB-KSC về việc chưa thanh toán chi phí bảo hiểm công trình cầu vượt sông T. Do đó, Ban quản lý dự án thành phố B chưa thanh toán được giá trị hợp đồng còn lại của Hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên.

Việc Bảo hiểm B có đơn khởi kiện yêu cầu Ban quản lý dự án thanh toán số tiền phí bảo hiểm là 2.212.000.000 đồng. Ban quản lý dự án Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Kho bạc Nhà nước khu vực V có ý kiến: Dự án đầu tư xây dựng Đường vành đai phía Nam Thành phố T, Công trình: Cầu vượt sông T lý do Ủy ban nhân dân Thành phố T làm chủ đầu tư, Ban B là đại diện chủ đầu tư. Dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh T phê duyệt quyết định đầu tư tại Quyết định số 909/QĐ-UBND ngày 05/05/2014, phê duyệt điều chỉnh dự án tại Quyết định số 2340/QĐ-UBND ngày 22/8/2019 và gói thầu xây lắp theo Hợp đồng số 56 ngày 27/11/2014, công trình hoàn thành bàn giao đưa vào vận hành quản lý theo Biên bản Bàn giao ngày 19/7/2019; Gói thầu bảo hiểm giá trị xây dựng công trình theo hợp đồng số C03/BHKT/06/09/15 ngày 14/3/2015, giá trị 2.512.000.000 đồng, đã thanh toán phí lần đầu là 300.000.000 đồng ngày 11/5/2015.

- Ngày 30/9/2022, Kho bạc Nhà nước T nay là Kho bạc Nhà nước khu vực V đã thông báo từ chối hồ sơ chứng từ ngày 26/9/2022 của Ban quản lý dự án thanh toán chi phí cho Hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15, nhà thầu là Bảo hiểm PVI, số tiền 2.212.000.000 đồng (là số tiền nợ còn phải trả cho Bảo hiểm PVI theo Quyết định phê duyệt Quyết toán dự án hoàn thành số 2905/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của UBND tỉnh), lý do "Chủ đầu tư đề nghị thanh toán khi hợp đồng bảo hiểm đã hết thời hạn bảo hiểm quy định trong hợp đồng; không phù hợp quy định "Tổng phí bảo hiểm phải được thanh toán trước thời hạn cuối của hiệu lực hợp đồng" Quy định tại Điều 3, hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15". Ban quản lý dự án đã có văn bản số 191/CV-BQL giải trình về việc thanh toán chi phí bảo hiểm công trình cầu vượt sông T nhưng chưa đầy đủ căn cứ để quyết toán, mặt khác đại diện chủ đầu tư và nhà thầu không bổ sung thêm tài liệu, văn bản có quan đến hồ sơ thanh toán. Giá trị còn lại của Hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15 hiện tại Kho bạc Nhà nước khu vực V không quản lý mà vẫn thuộc Ngân sách nhà nước. Do Ban B chưa giải trình đầy đủ, chưa đủ căn cứ thanh toán nên Kho bạc chưa thực hiện việc thanh toán. Việc thực hiện thanh toán giá trị còn lại của Hợp đồng bảo hiểm số C03/BHKT/06/09/15, Kho bạc Nhà nước khu vực V sẽ thực hiện theo quyết định của Tòa án. Trong trường hợp Toà án buộc Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B, tỉnh Thái Bình có trách nhiệm trả cho Bảo hiểm PVI khoản tiền trên thì khi Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố T, tỉnh Thái Bình sẽ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kinh phí. Khi được phê duyệt kinh phí Ban quản lý dự án có thủ tục đề nghị thanh toán thì Kho bạc Nhà nước Khu vực V sẽ thanh toán khoản kinh phí cho Bảo hiểm PVI.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Các đương sự cơ bản đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23, Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2019, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bảo hiểm B : Buộc Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B, tỉnh Thái Bình phải thanh toán phí bảo hiểm công trình cầu vượt sông T cho Bảo hiểm PVI số tiền là 2.212.000.000 đồng. Về án phí: Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố T phải chịu 76.240.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn trong vụ án có trụ sở đặt tại thành phố T; nguyên đơn đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ban quản lý dự án và Kho bạc Nhà nước vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[3] Ngày 14/3/2015 Ban quản lý dự án đã ký kết hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số C03/BHKT/06/09/15 với Bảo hiểm PVI. Trên cơ sở Giấy yêu cầu bảo hiểm của Ban quản lý dự án, Bảo hiểm PVI đã ra Giấy chứng nhận bảo hiểm rủi ro xây dựng, có nội dung: thời hạn bảo hiểm: kể từ ngày khởi công thi công xây dựng gói thầu xây lắp công trình cầu vượt sông T đến khi hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng (dự kiến 25 tháng) và 24 tháng bảo hiểm bảo hành tính từ ngày bàn giao công trình đưa vào sử dụng; đối tượng bảo hiểm: Dự án xây dựng công trình Cầu vượt sông T thuộc dự án đường V phía Nam thành phố T, công trình: Cầu vượt sông T; số tiền bảo hiểm: Tổn thất vật chất 423.016.942.000 đồng; Phí bảo hiểm 2.512.000.000 đồng; Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm được phân bổ theo 02 kỳ sau: Kỳ 1: Thanh toán 300.000.000 đồng trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng; Các kỳ tiếp theo: thanh toán phần còn lại theo tiến độ bố trí kế hoạch vốn của Chủ đầu tư cho gói thầu bảo hiểm. Ngày 22/5/2015 Ban B đã thanh toán phí bảo hiểm kỳ đầu tiên và Bảo hiểm B đã thực hiện việc bảo hiểm rủi ro công trình từ khi khởi công cho đến sau 02 năm công trình đưa vào hoạt động, sử dụng. Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm, đại diện theo pháp luật của các bên đều là người có năng lực pháp luật dân sự, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, tự nguyện ký kết hợp đồng, tự nguyện thỏa thuận về nội dung hợp đồng, mục đích của giao kết hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 119, 401 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó hợp đồng bảo hiểm trên có giá trị pháp lý ngay tại thời điểm giao kết, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm ký kết hợp đồng các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định trong hợp đồng.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Bảo hiểm PVI: Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì thời hạn bảo hiểm: kể từ ngày khởi công thi công xây dựng gói thầu xây lắp công trình cầu vượt sông T đến khi hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng (dự kiến 25 tháng) và 24 tháng bảo hiểm bảo hành tính từ ngày bàn giao công trình đưa vào sử dụng; Ban quản lý dự án có trách nhiệm thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định của Hợp đồng cho bên Bảo hiểm PVI; thời hạn thanh toán phí bảo hiểm quy định: Tổng phí bảo hiểm phải được thanh toán trước thời hạn cuối cùng của hiệu lực hợp đồng. Ngày 22/5/2015 Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B đã thanh toán phí bảo hiểm kỳ đầu tiên 300.000.000 đồng. Ngày 19/7/2019 công trình hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng thì đến ngày 19/7/2021 là ngày hết thời hạn bảo hiểm và tổng phí bảo hiểm phải được thanh toán hết. Tuy nhiên đến ngày 19/7/2021 Ban quản lý dự án vẫn chưa thanh toán phí bảo hiểm cho Bảo hiểm PVI như vậy Hợp đồng bảo hiểm được chấm dứt vào ngày 19/7/2021 và thời hạn bảo hiểm cũng hết. Điều 23, Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm: “2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; Điều 24. “2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người”. Như vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 24 Luật kinh doanh bảo hiểm: Ban quản lý dự án phải đóng phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng, đồng thời là ngày hết thời hạn bảo hiểm nên Ban quản lý dự án phải đóng toàn bộ số tiền phí bảo hiểm theo Hợp đồng nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bảo hiểm B, buộc Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố B, tỉnh Thái Bình hoàn tất các thủ tục để thanh toán phí bảo hiểm phí công trình cầu vượt sông T 2.215.000.000 đồng cho Bảo hiểm PVI theo quy định của pháp luật.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu 74.240.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 280, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 17, Điều 18, Điều 23, Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2019, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty B: Buộc Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố T, tỉnh Thái Bình phải thanh toán phí bảo hiểm công trình cầu vượt sông T theo Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số C03/BHKT/06/09/15 ngày 14/3/2015 cho Tổng công ty B số tiền phí còn lại là 2.212.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm mười hai triệu đồng chẵn).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố T phải chịu 76.240.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Tổng công ty B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/6/2025. Ban B hạ tầng thành phố T, tỉnh Thái Bình được quyền kháng cáo bản án, Kho bạc Nhà nước Khu vực V được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

  • Số bản án: 15/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng công ty B -Ban quản lý dự án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger