Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-ST

Ngày: 24-6-2025

V/v tranh chấp đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Nghị

Ông Phạm Quốc Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia

phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXX-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1937
  • Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (Có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980
  • Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (Có đơn xin xử vắng mặt).
  • - Người làm chứng:
  • Vợ chồng ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1978, bà Trương Thị N, sinh năm 1978.
  • Địa chỉ: Xóm B, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (Có yêu cầu xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T1 là con gái ruột của bà, hiện bà đang sinh sống ở chung nhà với bà T1, giữa bà và bà T1 không có mâu thuẫn gì. Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 17/11/2013 tại nhà bà trong lúc bà đang thay đồ, vàng bà bỏ trong túi quần rơi ra thì bà T1 đứng gần đó thấy chạy lại xô bà, bà chúi xuống thì bà T1 giật lấy 05 chỉ vàng nhẫn 24K của bà, việc xô xát giữa hai bên không ai thấy nên việc bà T1 lấy vàng của bà cũng không có ai biết, bà không có chứng cứ nào chứng minh, vì việc bà mất vàng chỉ có bà và bà T1, ngoài ra không có ai chứng kiến. Sau khi xảy ra sự việc bà có báo cho thôn biết nhưng thôn không giải quyết chuyển lên xã, sau đó bà yêu cầu Công an xã T và Công an huyện T giải quyết nhưng đều không giải quyết. Đến năm 2023 bà nhận được Thông báo số 63/TB-UBND ngày 21/02/2023 UBND huyện T trả lời không đúng theo nguyện vọng của bà nên nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà 05 chỉ vàng 24K.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn T1 trình bày:

Bà là con gái của bà Nguyễn Thị T, bà T là mẹ ruột bà, bà đang sinh sống và nuôi dưỡng bà T cùng ở chung một nhà, bà không thừa nhận lời khai của bà T, bà T khai không đúng sự thật. Sự việc xảy ra lâu quá bà không nhớ thời gian, khi đó bà T hô mất vàng có vợ chồng anh Nguyễn Tấn T2 là con ruột bà T và vợ anh T2 tên Trương Thị N chứng kiến, không ai thấy việc bà T rơi vàng nhưng bà T hô lên cho rằng bà lấy vàng của bà T, bà T có báo chính quyền thì thôn và xã mời lên làm việc có bà, bà T và vợ chồng anh T2. Công an xã T lập biên bản không có sự việc mất vàng có bà và vợ chồng anh T2 ký vào biên bản, còn bà T không đồng ý nên không ký biên bản, sau đó có gọi làm việc 2-3 lần nữa đều không có chứng cứ việc mất vàng, bà T cũng không chịu ký biên bản làm việc. Từ đó đến nay bà không thấy Công an huyện hay UBND huyện gọi làm việc, đến khi Tòa án gởi giấy triệu tập bà mới biết việc bà T kiện bà lấy 05 chỉ vàng. Bà yêu cầu Tòa án xác minh thu thập chứng cứ tại UBND xã T, bà T vu khống bà, bà không có lấy vàng của bà T. Việc bà T khởi kiện mà Tòa án xử không có căn cứ thì sau này bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải bồi thường nhân phẩm cho bà.

Người làm chứng ông Nguyễn Tấn T2 và bà Trương Thị N trình bày:

Ông Nguyễn Tấn T2 là con trai ruột bà T, bà Trương Thị N vợ ông T2 là dâu bà T. Việc bà T kiện bà T1 trộm vàng của bà T là không có, ngày tháng năm nào ông bà không nhớ, khi nghe bà T hô mất vàng, vợ chồng ông bà đến chỗ bà T thì không thấy vàng gì. Khi đó nghe bà T gọi bà T1 xuống tìm vàng, vợ chồng ông bà và bà T, bà T1 có xúm lại tìm nhưng không thấy đâu, sau đó bà T mang rựa đi làm. Sự việc trên được UBND xã T và Công an xã T gọi làm việc nhưng bà T không đồng ý. Vợ chồng ông bà khẳng định bà T1 không có lấy vàng của bà T.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà 05 chỉ vàng 24K vì không có chứng cứ chứng minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bà Nguyễn Thị T không phải chịu thuộc diện người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1, người làm chứng ông Nguyễn Tân T3, bà Trương Thị N có đơn xin xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về yêu cầu khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải cho bà 05 chỉ vàng 24K, do bà T1 lấy trộm của bà vào ngày 17/11/2013 tại nhà bà ở thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Bà Nguyễn Thị T1 không đồng ý việc bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bà phải trả cho bà T 05 chỉ vàng 24K vì bà không có lấy trộm vàng của bà T.

[3] Về nội dung sự việc:

Theo bà Nguyễn Thị T khai: Vào khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 17/11/2013 lúc bà T đang thay quần áo thì có làm rơi 05 chỉ vàng 24K xuống nền nhà tại vị trí chân bà, lúc đó bà chưa kịp lấy thì bà Nguyễn Thị T1 (con gái bà) ở chung nhà với bà đã lấy 05 chỉ vàng bà làm rơi, bà T đã báo cáo sự việc trên cho Công an xã T để giải quyết.

Qua xem xét nội dung báo cáo của bà T, Công an xã T đã đến hiện trường kiểm tra và tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 và những người có liên quan là bà Trương Thị N con dâu bà T, ông Nguyễn Tấn T2 con ruột bà T. Công an xã xác định ban đầu việc bà Nguyễn Thị T báo cáo con bà là Nguyễn Thị T1 chiếm đoạt 05 chỉ vàng là không có cơ sở kết luận. Vì tại thời điểm, vị trí bà T làm rơi tài sản là bà Nguyễn Thị Thị T1 đứng ở cửa ra vào nhà trước cách địa điểm bà T rơi vàng là 6 mét. Lúc đó bà Trương Thị N ở nhà liền kề có nghe bà T gọi bà T1 là “Thơ ơi ra đây tìm vàng cho tao”. Cũng tại thời điểm đó cháu ngoại của bà T là Lê Quốc H, sinh năm 2004 thấy bà Nguyễn Thị T1 đứng cữa nhà trước và có nghe bà T kêu: “Thơ ơi xuống tìm vàng cho tao”. Qua xác minh và làm việc đối chứng giữa bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 và bà Trương Thị N, ông Nguyễn Tấn T2 vào ngày 30/12/2013 và ngày 08/01/2014 về vụ mất tài sản xảy ra vào ngày 17/11/2013 tại nhà bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T1 không thừa nhận chiếm đoạt tài sản của bà T nên Công an xã T đã kết luận: Không có cơ sở kết luận bà Nguyễn Thị T1 có hành vi chiếm đoạt vàng của bà T, không có dấu hiệu cấu thành tội phạm”. Đồng thời Công an xã T đã ban

hành Thông báo số 04/TB-CAX ngày 21/3/2014 trả lời kết quả giải quyết vụ việc cho bà T biết.

Bà T tiếp tục khiếu nại được UBND huyện T trả lời tại mục 1.2 của Thông báo số 63/TB-UBND ngày 21/02/2023 “Việc kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết bà Nguyễn Thị T1 (con gái của bà T) lấy cắp 5 chỉ vàng của bà Nguyễn Thị T”.

Tòa án đã thu thập những tài liệu, chứng cứ được lưu giữ tại Công an xã T đã giải quyết trước khi bà T khởi kiện tại Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị T không cung cấp chứng cứ để chứng minh việc bà mất vàng, bà T cũng thừa nhận khi xảy ra sự việc chỉ có bà và bà T1, ngoài ra không có ai chứng kiến. Từ kết luận của Công an xã T và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, HĐXX xét thấy không đủ cơ sở chứng cứ chứng minh bà Nguyễn Thị T1 lấy vàng của bà T. Do đó, không chấp nhận khởi kiện của bà T yêu cầu bà T1 phải trả cho bà T 05 chỉ vàng 24K là phù hợp quy định tại Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp án phí sơ thẩm.

[5] Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà 05 chỉ vàng 24K.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T không phải nộp án phí sơ thẩm (thuộc diện người cao tuổi).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự H. Tây Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 15/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thu yêu cầu chị Thơ trả vàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger