|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/DS-ST
Ngày: 19/02/2025
Vv: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Ông Nguyễn Đình Rành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/02/2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 605/2024/TLST-DS ngày 18/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST – DS ngày ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐHPT-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T2; địa chỉ: Lầu H Tòa nhà G, số B P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Đỗ Văn D sinh năm 1993; địa chỉ: Lầu H Tòa nhà G, số B P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền số 231109-13-CCO ngày 09/11/2023) (Vắng mặt - có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Huy T sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: 4 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: G N, phường P, Quận G, Tp . (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; Các bản tự khai; Biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Ngày 09/07/2014, ông Nguyễn Huy T đã ký Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 (gọi tắt là Hợp đồng) với Công ty T2 (gọi tắt là HD Saison). Theo Hợp đồng, ông T đã vay số tiền 43.000.000 đồng, để tiêu dùng cá nhân. Theo đó,
vào ngày 01 hàng tháng, ông T phải thanh toán cho H: 3.246.678 đồng liên tục trong 18 kỳ trả góp bắt đầu từ ngày 01/08/2014 đến ngày 01/01/2016.
Ông Nguyễn Huy T vay tiền tại HD Saison, vay tiền không có tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán.
Từ khi ký hợp đồng, ông T chưa thanh toán cho H bất kỳ khoản tiền nợ nào.
Kể từ thời điểm xảy ra vi phạm, ngày 02/08/2014, HD Saison đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu ông T tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ thanh toán nợ đối với HD Saison theo Hợp đồng. Tuy nhiên, ông T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và còn nợ HD Saison tổng số tiền là 53.289.215 đồng. Trong đó, bao gồm:
- Tiền gốc chưa thanh toán là: 43.000.000 đồng;
- Tiền lãi chưa thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng tính từ ngày 01/08/2014 đến ngày 01/01/2015 là: 7.017.100 đồng;
- Tiền lãi quá hạn chưa thanh toán tính từ ngày 02/08/2014 đến ngày trên đơn khởi kiện là: 3.272.115 đồng.
* Về phần lãi quá hạn: Căn cứ Khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015, kể từ 02/08/2014 (ngày vi phạm) cho tới ngày trên đơn khởi kiện, ông T đã trễ hạn thanh toán 113 tháng.
Lãi suất quá hạn = 10%/12 x 113 tháng x 43.000.000 (tiền gốc) = 40.491.666 đồng.
Để tạo điều kiện thanh toán cho ông T, HD Saison giảm một phần tiền lãi quá hạn và chỉ yêu cầu ông T thanh toán khoản tiền lãi quá hạn là 3.272.115 đồng.
*Về phần lãi trong hạn: Căn cứ vào mục 5 Hợp đồng tín dụng số CR001336078, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 và khoản 3 Mục III Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao: HD Saison và ông T thỏa thuận lãi suất theo dư nợ giảm dần là 39%/năm (tương đương 3.25%/tháng).
Tiền góp mỗi tháng: là số tiền thỏa thuận giữa khách hàng và H dựa trên khả năng tài chính của khách hàng;
Tiền gốc phải thanh toán = Tiền góp mỗi tháng - Tiền lãi phải thanh toán – Tiền bảo hiểm.
Dư nợ gốc còn lại mỗi kỳ = Dư nợ gốc đầu kỳ - Tiền gốc đã thanh toán trong kỳ trước đó
T1 lãi phải thanh toán (trong hạn) = Dư nợ gốc đầu kỳ x lãi suất trong hạn x thời hạn.
Ví dụ:
Ngày giải ngân: 10/07/2014. Ngày thanh toán kỳ đầu tiên: 01/08/2014
Tiền lãi phải thanh toán Kỳ thứ 1 được tính lãi trên 22 ngày kể từ ngày giải ngân đến ngày thanh toán kỳ đầu tiên = 43.000.000 * 22 * (39/365)% = 1,010,795 đồng
Tiền lãi phải thanh toán Kì thứ 2 được tính lãi suất tháng trên dư nợ gốc còn lại ở kỳ thứ hai (từ ngày 01/08/2014 đến ngày 01/09/2014 là 31 ngày) = 40,817,867 * 31 * (39/365)% = 1,326,581 đồng.
Từ những căn cứ trên, H kính mong Quý Tòa xem xét giải quyết cho H những yêu cầu sau:
- Buộc ông Nguyễn Huy T thanh toán một lần toàn bộ số tiền chưa thanh toán tính đến ngày khởi kiện là 53.289.215 đồng ngay khi Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
- Buộc ông Nguyễn Huy T phải chịu lãi suất chậm thanh toán kể từ ngày HD Saison có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu ông T không thanh toán số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bị đơn ông Nguyễn Huy T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Toà án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp nhưng bị đơn không đến, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7:
1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Nguyễn Huy T mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Công ty T2 khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Huy T phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014, thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng”.
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014 thể hiện ông Nguyễn Huy T tại thời điểm ký kết hợp đồng với nguyên đơn có địa chỉ tại 4 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh: Công dân ông Nguyễn Huy T sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: 4 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh hiện ngụ tại G N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh: đương sự ông Nguyễn Huy T sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: 4 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh hiện thực tế cư ngụ tại G N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về hình thức
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Huy T các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 đối với bị đơn ông Nguyễn Huy T:
Xét, Căn cứ Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014 giữa Công ty T2 và ông Nguyễn Huy T, căn cứ giấy chuyển tiền ngày 10/07/2014 thì có cơ sở về việc ông T có vay của Công ty T2 số tiền 43.000.000 đồng.
Nội dung hợp đồng là phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được pháp luật công nhận và có hiệu lực.
Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền 43.000.000 đồng theo giấy chuyển tiền ngày 10/07/2014 và bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền nào
Như vậy, ông Nguyễn Huy T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó căn cứ vào Điều 9.6 Bản điều khoản chung của hợp đồng tín dụng cá nhân, nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên có cơ sở chấp nhận.
Xét, theo quy định của pháp luật:
- Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
- Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tô chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Xét, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Nguyễn Huy T. Tuy nhiên bị đơn ông Nguyễn Huy T không đến tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn ông Nguyễn Huy T đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn, đồng thời chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận tại khoản 9.3 của đề nghị vay là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Huy T phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/02/2025 là: 53.289.215 đồng, trong đó, nợ gốc là 43.000.000 đồng, nợ lãi là 10.289.215 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 20/2/2025 cho đến khi thi hành án xong ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014.
[3.2.] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3.] Về án phí:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 280, Điều 317, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Luật Phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014,
Xử:
[1] Về hình thức:
Xử vắng mặt nguyên đơn Công ty T2, bị đơn ông Nguyễn Huy T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Huy T phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Công ty T2 số tiền tổng cộng tính đến ngày 19/02/2025 là: 53.289.215 đồng, trong đó, nợ gốc là 43.000.000 đồng, nợ lãi là 10.289.215 đồng.
Trả ngay 01 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Kể từ ngày 20/02/2025, bị đơn ông Nguyễn Huy T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp Hợp đồng cho vay bằng tiền mặt số CR001336078 ngày 09/7/2014 và Bản điều khoản chung của hợp đồng tín dụng cá nhân các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Huy T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 2.664.461 đồng.
Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Công ty T2 là 1.333.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0042829 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Công ty T2 và bị đơn ông Nguyễn Huy T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
TAND QUẬN 7 190225.TL.QDBA.15 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Duyên |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: châp nhận yêu cầu khởi kiện
