|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/DS-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Tân và bà Hoàng Thị Tường Vy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 21/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/QĐST-TCDS ngày 06/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần L (L1). Địa chỉ: LPB T, số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, chức vụ: Giám đốc L1-Chi nhánh Q (thực hiện theo Quyết định số 636/2024/QĐ-CTHĐQT ngày 08/10/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP L về việc ủy quyền đối với Giám đốc Chi nhánh, Giám đốc Phòng giao dịch. Địa chỉ: Số F T, phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Bình.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Duy H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần L – Chi nhánh Q. Địa chỉ: Số F T, phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Bình. (Theo giấy ủy quyền số 20/2025/UQ-QB ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Ngân hàng thương mại cổ phần L – Chi nhánh Q). Có mặt.
Bị đơn: Ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1. Đều có địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/12/2024 các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, phía nguyên đơn ông H trình bày:
Ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP L theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Tổng số tiền cấp tín dụng là 500.000.000 đồng. Ngày 06/07/2023, L1 đã giải ngân cho ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/07/2023 số tiền là: 480.000.000 đồng.
Ngày 05/07/2022, Ngân hàng TMCP L – Chi nhánh Q đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với ông Mai Văn V. Hạn mức tín dụng đề nghị là: 20.000.000 đồng dư nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 07/01/2024 là: 26.508.719 đồng.
Quá trình sử dụng vốn vay, ông V, bà C1 thế chấp tài sản gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số HĐTC4502022186 ngày 11/07/2022 và tài sản đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ phát sinh. Các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 10/11/2023. L1 đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần để (Ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 trả nợ nhưng ông V, bà C1 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và theo các quy định của pháp luật.
Tạm tính đến ngày 18/6/2025, ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 mới chỉ thanh toán cho L1 số tiền là 50.036.000 đồng và còn nợ L1 số tiền là: 634.508.763 đồng (Sáu trăm ba mười tư triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm sáu mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc 479.949.964 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn 11.854.111 đồng (Mười một triệu tám trăm năm mươi tư nghìn, một trăm mười một đồng), nợ lãi quá hạn 140.861.958 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi chậm trả lãi 1.842.730 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi đồng). Ông Mai Văn V còn nợ thẻ là 29.314.254 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mươi tư đồng). Trong đó: nợ gốc 15.777.359 đồng (Mười lăm triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, ba trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 13.167.598 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng).
Nay đề nghị Tòa án giải quyết buộc:
Ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần L với tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2025 là 634.508.763 đồng (Sáu trăm ba mười tư triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm sáu mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc 479.949.964 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn 11.854.111 đồng (Mười một triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn một trăm mười một đồng), nợ lãi quá hạn 140.861.958 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi chậm trả lãi 1.842.730 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi đồng). Ông Mai Văn V phải thanh toán nợ thẻ tín dụng quốc tế cho Ngân hàng thương mại cổ phần L với tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2025 là 29.314.254 đồng. Trong đó: nợ gốc 15.777.359 đồng (Mười lăm triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, ba trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 13.167.598 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng).
Đề nghị Toà án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/07/2023 và Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của ông Mai Văn V ngày 05/07/2022 đã ký giữa L1 và ông V, bà C1.
Trong trường hợp ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho L1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP L có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số HĐTC4502022186 ngày 11/07/2022 và tài sản đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với L1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho L1.
Bị đơn bà Mai Thị C1 trình bày: Vợ chồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP L theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Tổng số tiền cấp tín dụng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Ngày 06/07/2023, L1 đã giải ngân cho vợ chồng bà theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/07/2023 số tiền là: 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng) với các nội dung và lãi suất, thời hạn vay như hợp đồng đã ký kết, ngân hàng đã giải ngân đủ cho vợ chồng bà. Ngoài ra có thẻ tín dụng 05/7/2022 đứng tên Mai Văn V, hạn mức thẻ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Sau khi vay vồn vợ chồng bà trả lãi đầy đủ, nhưng thời gian gần đây do điều kiện kinh tế khó khăn chưa có điều kiện trả nwoj cho ngân hàng dề nghị tạo điều kiện cho vợ chồng trả nợ.
Bị đơn ông Mai Văn V đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng không có mặt để trình bày ý kiến về việc Ngân hàng thương mại cổ phần L khởi kiện. Do đó, Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh và niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tổ chức hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên bị đơn không đến phiên tòa nên không hòa giải và giải quyết toàn bộ vụ án nên việc hòa giải không thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: Phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 117,118, 119, 292, 293, 298, 299, 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L.Buộc ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 18/6/2025 số tiền là 634.508.763 đồng (Sáu trăm ba mười tư triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm sáu mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc 479.949.964 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn 11.854.111 đồng (Mười một triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, một trăm mười một đồng), nợ lãi quá hạn 140.861.958 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi chậm trả lãi 1.842.730 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023.
Buộc ông Mai Văn V phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 18/6/2025 là 29.314.254 đồng. Trong đó: nợ gốc 15.777.359 đồng (Mười lăm triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, ba trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 13.167.598 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L thì Ngân hàng thương mại cổ phần L có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số HĐTC4502022186 ngày 11/07/2022.
Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần L khởi kiện bị đơn ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- [1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nguyên đơn đã đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án. Đối với bị đơn ông Mai Văn V không đến Tòa án làm bản tự khai cũng như vắng mặt tại các lần Tòa án triệu tập sau đó. Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập qua đường bưu điện, niêm yết và trực tiếp giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Mai Văn V vẫn cố tình vắng mặt tại các buổi làm việc do Tòa án triệu tập. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của bị đơn ông Mai Văn V, cả hai người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay, ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 có mặt tại địa phương.
Toà án thông báo cho các bên đương sự đến để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chỉ có nguyên đơn có mặt còn bị đơn vắng mặt không có lý do nên Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó, Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-TCDS ngày 21 tháng 5 năm 2025 và tống đạt đến ông V bà C1. Ngày 06/6/2025 Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên bị đơn ông V, bà C1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ra quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/QĐST-TCDS ngày 06/6/2025 và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 18/6/2025 đồng thời tiến hành thủ tục tống đạt trực tiếp cho bà C1, niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng tại thôn C, xã H và trụ sở UBND xã H nơi bị đơn cư trú. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1.
- [1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ điều tra xác minh và thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp. Tại phiên tòa hôm nay có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
- [2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng: Nhận thấy ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 và Ngân hàng thương mại cổ phần L - Chi nhánh Q đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023 số dư nợ ban đầu 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh hải sản. Thời hạn cho vay: 6 tháng; Lãi suất cho vay từ 10,85%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150%/năm.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trên, ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 đã ký kết hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐTC4502022336 ngày 11/7/2022 tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1.
Ngoài hợp đồng tín dụng nói trên ngày 05/07/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần L – Chi nhánh Q đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với ông Mai Văn V. Hạn mức tín dụng đề nghị là: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Dư nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 07/01/2024 là: 26.508.719 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm mười chín đồng).
Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật; vì vậy các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.
Về lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023. Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 10,85%/năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn x 150% là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần L - Chi nhánh Q đã giải ngân cho ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023 số tiền giải ngân 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng) và hạn mức thẻ tín dụng của ông Mai Văn V là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ phát sinh. Các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 10/11/2023. L1 đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần để ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 trả nợ nhưng ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và theo các quy định của pháp luật, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, bị đơn đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V, bà C1 trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023 là có cơ sở. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về buộc ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L, tính đến ngày 18/6/2025 số tiền là 634.508.763 đồng (Sáu trăm ba mười tư triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm sáu mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc 479.949.964 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn 11.854.111 đồng (Mười một triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, một trăm mười một đồng), nợ lãi quá hạn 140.861.958 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi chậm trả lãi 1.842.730 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến ngày ông V, bà H1 thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
Buộc ông Mai Văn V phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 18/6/2025 là 29.314.254 đồng. Trong đó: nợ gốc 15.777.359 đồng (Mười lăm triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 13.167.598 đồng (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi tám đồng).
- [3]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC4502022336 ngày 11/7/2022 tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 trong trường hợp ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023. Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp theo biên bản thẩm định ngày 29/4/2025. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 527; tờ bản đồ số 9; diện tích: 141,7 m²; địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 10/3/2022 mang tên Mai Văn V và Mai Thị C1. Phía Bắc giáp đường giao thông, có kích thước 9,32m, phía Đông Bắc giáp đường giao thông có kích thước 13,64m, phía Đông Nam giáp đường giao thông, có kích thước 9,12m, phía Tây Nam giáp thửa 578, có kích thước 24,51m. Tổng diện tích đo đạc là 141,7m². Trên đất không có tài sản.
- [4]. Về chí phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí, nên cần buộc bị đơn ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- [5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 117,118, 119, 292, 293, 298, 299, 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L.
Buộc ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 18/6/2025 số tiền là 634.508.763 đồng (Sáu trăm ba mười tư triệu năm trăm linh tám nghìn bảy trăm sáu mươi ba đồng), bao gồm nợ gốc 479.949.964 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn 11.854.111 đồng (Mười một triệu tám trăm năm mươi tư nghìn một trăm mười một đồng), nợ lãi quá hạn 140.861.958 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi chậm trả lãi 1.842.730 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4502022336 ngày 11/07/2022. Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502022336/05 ngày 06/7/2023.
Buộc ông Mai Văn V phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 18/6/2025 là 29.314.254 đồng. Trong đó: nợ gốc 15.777.359 đồng (Mười lăm triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 13.167.598 đồng (Mười ba triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L thì Ngân hàng thương mại cổ phần L có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất 527, tờ bản đồ số 9 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 611237 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 04/08/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 04039, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2022, đứng tên ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số HĐTC4502022186 ngày 11/07/2022.
-
Về chi phí tố tụng: Buộc ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 phải hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
-
Về án phí sơ thẩm:
Buộc ông Mai Văn V và bà Mai Thị C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 29.380.352 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm tám mươi nghìn ba trăm năm mươi hai đồng).
Buộc ông Mai Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.465.712 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm mười hai đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần L được nhận lại số tiền 14.347.101 đồng (Mười bốn triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm linh một đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004068 ngày 04/4/2025.
- Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Mạnh Cường |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng L yêu cầu anh V chị C thanh toán hợp đồng tín dụng
