Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-STNgày 12-6-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới

Ông Nguyễn Đăng Thường

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Đoàn Lương Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 284/2024/TLST-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-DS ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐXXST-DS ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng C; Trụ sở: 169, phố L, phường H, quận H, thành phố H diện theo ủy quyền lại là ông Nguyễn Danh T, sinh năm 1985 chức vụ Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C;

* Bị đơn: bà Phạm Thị Hoài H, sinh năm 1991; Trú tại: Ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990 (chồng bà H tại: Ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng C (đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Danh T1 bày:

- Ngày 07/10/2019, Ngân hàng C có cho bà Phạm Thị Hoài H vay vốn theo khế ước vay (mã món vay) số 6600000716300858, số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) lãi suất cho vay 6,6%/ năm, thời hạn vay là 60 tháng; trả gốc 06 tháng/lần (09 kỳ); trả lãi 01 tháng/lần. Mục đích vay để hỗ trợ việc làm sử dụng vào việc trồng cây Điều. Thời hạn vay đến ngày 07/10/2024; Từ khi vay đến ngày 21/10/2022 bà Hông Đ đã trả số tiền lãi là 10.035.619 đồng. Hiện tại, bà H, ông Đ còn nợ số tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 21/10/2022 đến ngày 12/6/2025 là 9.350.000 đồng.

-Ngày 07/12/2021, bà H tiếp tục được Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Đ vay vốn từ Chương trình cho vay hộ cận nghèo, mã số món vay 6600000721544163 với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích để trồng và chăm sóc cao su, lãi suất 7,92%/năm; lãi xuất quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay; thời hạn vay là 60 tháng; kỳ trả nợ là 12 tháng/lần (05 kỳ); số tiền trả nợ là 10.000.000 đồng/lần; hạn trả nợ cuối cùng là ngày 07/11/2026. Từ khi vay đến ngày 05/09/2022 bà Hông Đ đã trả số tiền lãi là 2.951.944 đồng. Hiện tại, bà Hông Đ còn nợ số tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 05/09/2022 đến ngày 12/6/2025 là 11.000.000 đồng.

Tổng số tiền bà Phạm Thị Hoài H còn nợ của Ngân hàng tạm tính đến ngày 12/6/2025 là 120.350.000 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 20.350.000 đồng).

Do bà H thành viên trong gia đình đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết khi làm hồ sơ vay vốn (như trả lãi hàng tháng, trả gốc theo kỳ hạn) và để quá hạn nợ gốc (hợp đồng vay năm 2019) nên Ngân hàng CPhòng giao dịch huyện Cđã chuyển món vay 6600000716300858 từ chương trình cho vay Hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm sang trạng thái nợ quá hạn với số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi chuyển nợ quá hạn Ngân hàng tiếp tục đôn đốc nhắc nhở nhưng bà H vẫn không chịu trả nợ cho Ngân hàng C

Ngân hàng C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà H người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đ phải trả nợ toàn bộ nợ gốc là: 100.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 12/6/2025 là 20.350.000 đồng, tổng cộng là 120.350.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ.

*Bị đơn bà Phạm Thị Hoài H mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

*Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ngày 07/10/2019, ông Đ cùng vợ là bà Phạm Thị Hoài H vay của Ngân hàng C - chi nhánh Đ2, có ký khế ước nhận nợ số 6600000716300858, số tiền là 50.000.000 đồng; lãi xuất cho vay là 6,6%/năm, hạn trả cuối là ngày 21/10/2024.

Ngày 07/12/2021, bà H ông Đ tiếp tục vay của Ngân hàng C - chi nhánh Đ2, cho hộ cận nghèo vay số tiền là 50.000.000 đồng; mục đích vay để trồng và chăm sóc cây cao su, lãi xuất là 7,92%/năm, ngày đến hạn cuối là 07/11/2026.

Đến ngày cuối hạn trả nợ gốc 50.000.000 đồng ( của khế ước vay số 6600000716300858) nhưng do gia đình ông Đ làm ăn thua lỗ nên không có khả năng trả nợ.

Nay Ngân hàng C yêu cầu bà H, ông Đ phải có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận thì ông Đ cũng đồng ý trả. Tuy nhiên, do ông Đ đang bị tạm giam về vụ án hình sự nên không có khả năng trả, ông Đ sẽ tác động cùng bà H trả toàn bộ số nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng.

*Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú:

Căn cứ 117, 274, 275, 278, 280, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phạm Thị Hoài H và ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 12/6/2025 là 120.350.000 đồng đồng (100.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 12/6/2025 là 20.350.000 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng Cyêu cầu bị đơn bà Phạm Thị Hoài H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ngân hàng số tiền gốc là 100.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền nói trên theo quy định của pháp luật tính đến ngày xét xử (12/6/2025) là 20.350.000 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Phạm Thị Hoài H có địa chỉ thường trú tại Đ, ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao và niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định nhưng quá trình giải quyết vụ án bị đơn Phạm Thị Hoài H văng mặt không có lý do; Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên cần căn cứ Điều 228 để xét xử vắng mặt những người nói trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định anh Nguyễn Văn Đ là bị đơn, tuy nhiên nay xác định lại anh Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Yêu cầu của đương sự:

[1] Xét yêu cầu của của Ngân hàng C (gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu buộc bà Phạm Thị Hoài H, ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền gốc đã vay là 100.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền nói theo thỏa thuận tính đến ngày 12/6/2025 là 20.350.000 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ. Yêu cầu này được Ngân hàng chứng minh bằng Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì mở rộng việc làm; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay- thu nợ-dư nợ; sổ vay vốn; phiếu thẩm định tín dụng và các giấy tờ khác có liên quan (giấy ủy quyền; giấy đề nghị thay đổi thông tin thẻ căn cước của bà H).

Yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở được chấp nhận, bởi lẽ: Hợp đồng tín dụng (kế ước vay, mã món vay) số 6600000716300858 ngày 07/10/2019 và mã số món vay 66000007215441630 ngày 07/12/2021 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Phạm Thị Hoài H là hợp pháp, vì thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của giao dịch dân sự theo quy định giao dịch dân sự nói chung cũng như các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nên có giá trị bắt buộc với các bên tham gia giao dịch.

Theo nội dung hợp đồng tín dụng thể hiện: Ngày 07/10/2019 bà Phạm Thị Hoài H vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mục đích vay để thực hiện dự án trồng Điều. Lãi suất 6,6%/năm; thời hạn vay là 60 tháng; trả gốc 06 tháng/lần (09 kỳ); trả lãi 01 tháng/lần; số tiền gốc mỗi kỳ là 5.500.000 đồng/ lần; hạn cuối cùng vào ngày 07/10/2024.

Ngày 07/12/2021, bà Phạm Thị Hoài H tục vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mục đích vay để thực hiện dự án chăm sóc cây Cao su. Lãi suất 7.92%%/năm; Lãi xuất nợ quá hạn là 130% lãi xuất khi cho vay; thời hạn vay là 60 tháng; trả gốc 06 tháng/lần (05 kỳ); trả lãi 01 tháng/lần; số tiền gốc mỗi kỳ là 10.000.000 đồng/ lần; hạn cuối cùng vào ngày 17/11/2026.

Tuy nhiên, trong quá trình trả lãi và nợ gốc, bà Phạm Thị Hoài H đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền gốc cho Ngân hàng theo đúng các điều khoản đã cam kết, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc quá hạn và trước hạn theo quy định.

Đối với yêu cầu trả lãi: Đối với khoản bà H ngày 07/10/2019, số tiền là 50.000.000 đồng thì lãi suất vay là trong hạn là 6,6%/năm (0.55%/tháng); lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn trả cuối cùng ngày 07/10/2024; thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do bà H phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi (mới trả lãi đến ngày 21/10/2022) nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn, tính lãi của số tiền trên theo lãi suất nợ quá hạn quy định trong khế ước vay và yêu cầu phải trả lãi (tính từ ngày 21/10/2022 đến ngày 12/06/2026) là 9.350.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là có cơ sở nên được chấp nhận.

Đối với khoản tiền bà H ngày 21/12/2021, số tiền là 50.000.000 đồng; lãi suất thỏa thuận 7.92%%/năm ; lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay; thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do bà H phạm nghĩa vụ trả tiền lãi (bà H trả lãi đến ngày 05/09/2022) và tiền gốc định kỳ nên Ngân hàng yêu cầu bà H cả toàn bộ tiền gốc còn nợ và yêu cầu phải trả lãi tính từ ngày 05/09/2022 đến ngày xét xử 12/6/2025 với số tiền là 11.000.000 đồng tiền lãi theo thỏa thuận tiền lãi phát sinh tính từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là có cơ sở nên được chấp nhận.

Tổng số tiền lãi của hai khoản vay bà Phạm Thị Hoài H trả là 20.350.000 đồng.

Về nghĩa vụ trả nợ: Xét đây là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bà H và ông Đ. Ông Nguyễn Văn Đ cũng thừa nhận đây là số tiền nợ chung của ông Đ và bà H, ông Đ đồng ý cùng bà H trả toàn bộ số nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng nên được ghi nhận.

Như vậy, cần tuyên buộc bà Nguyễn Thị Hoài Hvà ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Csố tiền gốc là 100.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền nói trên theo quy định của pháp luật tạm tính đến ngày xét xử (12/6/2025) là 20.350.000 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ là phù hợp.

Các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu

[2] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, như đã nhận định ở trên nên có cơ sở nên được xem xét chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng C Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà Phạm Thị Hoài H, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 137; 288, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 27, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.

Buộc bà Nguyễn Thị Hoài H và ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử (12/6/2025) là 120.350.000 đồng {trong đó tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng; tiền lãi là 20.350.000 đồng} và lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả hết nợ, theo khế ước vay số 6600000716300858 ngày 07/10/2019 và số 6600000721544163 ngày 07/12/2021.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm tranh chấp hợp đồng tín dụng là: 6.017.500 đồng bà Phạm Thị Hoài H, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu.

Bản án (Quyết định) này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - THADS huyện Đ
  • - Các đương sự.
  • - Lưu;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ - TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ - TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger