|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/DS-ST
Ngày: 04-3-2025
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Danh
Ông Nguyễn Minh Chí
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Duy Tùng – Kiểm sát viên
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 453/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP ) (S).
Địa chỉ trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc P – Phó trưởng phòng Phòng G - Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q; Địa chỉ liên lạc: 287-289 đường L tỉnh 5, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
- Ông Lê Tấn T, sinh năm 1980;
- Bà Bùi Thị Bé H, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Ông P có mặt; ông T, bà H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S - ông Vũ Ngọc P trình bày: Giữa Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q – Phòng G với ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H có ký kết Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 11-01-2024, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202427370273 ngày 02-02-2024 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 455 ngày 02-02-2024 (công chứng tại Văn phòng C – tỉnh Long An). Theo đó, số tiền vay là 1.200.000.000 đồng; Mục đích vay: chuyển nhượng bất động sản; Phương thức cho vay: từng lần; Thời hạn vay: 300 tháng (gốc và lãi trả ngày 12 hàng tháng theo dư nợ giảm dần); Thời điểm nhận nợ là ngày 12-01-2024 và ngày 30-01-2024; Thời điểm trả hết nợ: ngày 12-01-2049; Lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 11-01-2024 và các Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng có liên quan. Tài sản đảm bảo: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 509, Tờ bản đồ số 16, đất tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An (thuộc sở hữu của ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H). Tính đến ngày 23-6-2024, các khoản vay của ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H đã quá hạn thanh toán gốc, lãi theo quy định của Ngân hàng là 1.199.382.892 đồng, trong đó, số tiền vốn là 1.183.996.000 đồng và số tiền lãi là 15.386.892 đồng. Ngân hàng thường xuyên đôn đốc ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị B Hai đến Ngân hàng làm việc về thanh toán nợ vay. Tuy nhiên, ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H vẫn không thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 1.199.382.892 đồng tạm tính đến ngày 23-6-2024, trong đó: vốn gốc là 1.183.996.000 đồng và số tiền lãi là 15.386.892 đồng.
- Ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H phải thanh toán toàn bộ tiền lãi phát sinh từ ngày 23-6-2024 đến khi trả dứt nợ.
- Trong trường hợp ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H không trả được nợ thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
- Trong trường hợp sau khi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí liên quan đến việc khởi kiện, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn lại.
Ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông T, bà H không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không đến Tòa án theo Giấy triệu tập, nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đến thời điểm này, ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H vẫn chưa thanh toán thêm bất kì khoản tiền vốn hoặc lãi nào cho phía nguyên
đơn. Tính đến ngày 27-02-2025, số tiền nợ gốc là 1.183.996.000 đồng và tiền nợ lãi là 111.405.081 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định tính đến ngày 27-02-2025, ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H còn nợ Ngân hàng TMCP S 1.183.996.000 đồng nợ gốc và 111.405.081 đồng nợ lãi. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thì ông T, bà Bé H phải có trách nhiệm thanh toán số nợ trên cho Ngân hàng TMCP S. Đồng thời, để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, ông T, bà Bé H có thế chấp quyền sử dụng đất Thửa số 509, Tờ bản đồ số 16, đất tại ấp B xã L, huyện C, tỉnh Long An. Theo Hợp đồng thế chấp, trong trường hợp ông T, bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của đương sự và nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn - ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lý do, căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng,
[2.1] Về nợ gốc và nợ lãi: Theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 11-01-2024 cùng Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202427370273 ngày 02-02-2024 ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H, thể hiện Ngân hàng TMCP S cho ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H vay số tiền 1.200.000.000 đồng; Mục đích vay: chuyển nhượng bất động sản; Phương thức cho vay: từng lần; Thời hạn vay: 300 tháng (gốc và lãi trả ngày 12 hàng tháng theo dư nợ giảm dần); Thời điểm nhận nợ là ngày 12-01-2024 và ngày 30-01-2024; Thời điểm trả hết nợ: ngày 12-01-2049; Lãi suất: 11%/năm áp dụng đến hết ngày 10-01-2025; kể từ ngày 11-01-2025 trở đi, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được S niêm yết tại www.S.com.vn điểm điều chỉnh cộng với biên độ 4,3%/năm và được S định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần, phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.
Theo các Giấy nhận nợ ngày 12-01-2024, ngày 30-01-2024 của ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho ông T, bà H lần lượt các số tiền là 950.000.000 đồng và 250.000.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000.0000 đồng. Đính kèm Giấy nhận nợ là L trả nợ gồm thời gian và số tiền vốn gốc phải thanh toán cụ thể cho từng khoản giải ngân.
Theo nguyên đơn, sau khi nhận vốn vay, ông T, bà H đã thanh toán đúng hạn được 04 kỳ tương ứng các ngày 12-02-2024, 12-3-2024, 12-4-2024, 12-5-2024 với tổng số tiền vốn là 16.004.000 đồng, tiền lãi là 42.770.390 đồng. Từ ngày 12-6-2024 đến nay, mặc dù đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán thêm bất kì khoản nào khác cho nguyên đơn. Từ ngày 22-6-2024, nguyên đơn đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại sang nợ quá hạn và quyết định thu hồi nợ trước hạn. Thấy rằng, việc nguyên đơn thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản dư nợ gốc và lãi phát sinh là phù hợp với quy định tại Các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Cụ thể, S được toàn quyền quyết định thu hồi nợ trước hạn trong trường hợp “Bên được cấp tín dụng phát sinh nợ quá hạn” (Điều 1). S được toàn quyền “chuyển toàn bộ số dư nợ thực tế còn lại của Hợp đồng này và các Hợp đồng tín dụng khác (nếu có) dù chưa đến hạn cũng được chuyển sang nợ quá hạn” trong trường hợp bên được cấp tín dụng không thanh toán đúng hạn và đầy đủ (Điều 2).
Quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng bị đơn vẫn không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở xác định tính đến ngày 27-02-2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn gốc là 1.183.996.000 đồng và số tiền lãi là 111.405.081 đồng.
Căn cứ các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các văn bản có liên quan. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu ông T, bà H thanh toán nợ gốc và nợ lãi là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H có thế chấp quyền sử dụng đất Thửa số 509, Tờ bản đồ số 16, đất tại ấp B xã L, huyện C, tỉnh Long An do ông Lê Tấn T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 455 ngày 02-02-2024 được Công chứng tại Văn phòng C, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C chứng nhận đăng ký vào ngày 05-02-2024. Các đương sự không tranh chấp về hiệu lực của Hợp đồng thế chấp. Đối chiếu các quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn về giao dịch bảo đảm, xác định Hợp đồng thế chấp số 455 ngày 02-02-2024 nêu trên phát sinh hiệu lực đối với bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Theo thỏa thuận tại Điều 1 Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp nêu trên dùng để đảm bảo “Toàn bộ nghĩa vụ của Bên được cấp tín dụng với S (gồm nợ gốc, nợ lãi, phí,
các khoản phải trả khác) tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 11-01-2024, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202427370273 ngày 02-02-2024...”. Theo Biên bản thẩm định tại chỗ vào ngày 21-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tại vị trí thửa đất số 509 (thửa đất thế chấp), trên đất có một căn nhà trệt, kết cấu tường gạch, mái tole, nền gạch men; lối đi tráng bê-tông. Tại thời điểm thẩm định hiện trạng nhà trống, không có người sinh sống. Phần tài sản này không được ghi nhận là tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp, cũng chưa được ghi nhận vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, căn cứ Khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự, các tài sản gắn liền với đất cũng được xử lý cùng với quyền sử dụng đất được thế chấp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 509 để thu hồi nợ trong trường hợp ông T, bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí và các chi phí tố tụng khác:
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận, nên ông T, bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.200.000 đồng, ông T, bà H phải chịu. Ngân hàng TMCP S đã tạm ứng trước. Do đó, ông T, bà H có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S 1.200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 116, 117, 118, 119, 274, 275, 295, 298, 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 325, 463, 466 Bộ luật Dân sự; các điều 90, 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” với ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H.
- - Ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 1.295.401.081 đồng bao gồm 1.183.996.000 đồng tiền nợ gốc và 111.405.081 đồng tiền nợ lãi (tạm tính đến ngày 27-02-2025).
- - Ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H phải thanh toán toàn bộ tiền lãi phát sinh từ ngày 28-02-2025 đến khi trả tất nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 11-01-2024, Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202427370273 ngày 02-02-2024 và các văn bản có liên quan.
- - Trong trường hợp ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp số 455 ngày 02-02-2024 để thu hồi nợ, đó là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với Thửa đất số 509, Tờ bản đồ số 16, đất tại ấp B xã L, huyện C, tỉnh Long An do ông Lê Tấn T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 307 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Ông Lê Tấn T và bà Bùi Thị Bé H phải chịu 50.862.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 23.759.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013855 ngày 23-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.200.000 đồng, ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H phải chịu. Ngân hàng TMCP S đã tạm ứng trước. Vì vậy, ông Lê Tấn T, bà Bùi Thị Bé H có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 1.200.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về quyền kháng cáo: Bản án sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyễn Xuân An |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất)
