Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-PT

Ngày: 21/3/2025

“V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng

Các thẩm phán: Ông Trương Quang Tú và Bà Vũ Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.

Trong các 27/12/2024; 06/01/2025 và ngày 21/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024về việc “ Tranh chấp về kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn:

  • - Bà Cao Thị T, sinh năm 1965; “Vắng mặt”
  • Địa chỉ: Số nhà B, đường N, Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
  • - Bà Cao Thị T1 (tên gọi khác: V), sinh năm 1976; “Vắng mặt”
  • Địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
  • Đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị T1: Bà Cao Thị T, sinh năm 1965.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà T1: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt"

2. Bị đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967; “Có mặt”
  • - Bà Đào Thị S1, sinh năm 1967; “Có mặt”
  • Cùng địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Phan Thị H, sinh năm 1970; “Vắng mặt”
  • Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  • - Ông Vi Văn T2, sinh năm 1972; “Vắng mặt”
  • Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
  • Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn S, bà Cao Thị S2

Phiên tòa ngày 29/12/2024, bà T, ông S và bà S2 có mặt; bà H, ông T2 và bà T1 vắng mặt. Phiên tòa ngày 21/3/2025, chỉ có bà S2 và ông S có mặt còn lại các đương sự khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị T trình bày:

Ngày 15/7/2021 bà và em gái là Cao Thị T1 (tức V) có thỏa thuận hợp tác làm ăn với ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1, công việc làm ăn là thu mua sắn khô từ các nơi về và để tại kho nhà máy sắn Trung Quốc có địa chỉ: Xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Việc thỏa thuận hợp tác làm ăn được giao kết bằng miệng, nội dung thỏa thuận như sau:

  • - Bà T có trách nhiệm ứng tiền vốn ra trả tiền mua sắn khô trực tiếp.
  • - Ông S có trách nhiệm bán sắn khô và thu tiền về. Thanh toán trả tiền vốn tôi ứng trước. Còn lại bao nhiêu thì chia đôi.
  • - Bà S1 có trách nhiệm ghi chép sổ sách, tổng hợp các giao dịch mua bán, theo dõi việc thu, chi.

Việc thỏa thuận trên chỉ bằng miệng phân công việc rõ ràng, trách nhiệm của từng người, nếu ai làm sai thì người đó phải chịu trách nhiệm.

Đến cuối năm 2021, bà có yêu cầu bà S1 làm sổ hạch toán, công khai các khoản thu, chi, chốt sổ và thanh toán trả tiền bà đã ứng mua sắn khô. Nhưng bà S1 không thực hiện và đưa ra với lý do là ông S đã mang hết sổ sách về quê nên không hạch toán chốt sổ được và bà S1 hẹn bà tới ngày 13/02/2022 ông S mới lên chốt sổ. Đến ngày hẹn vì gia đình bà có người mất đột ngột nên không gặp được ông bà S1, bà có gọi điện yêu cầu bà S1 tính toán sẵn, xong công việc gia đình bà lên kiểm tra. Bà S1 đã cộng sổ và chụp ảnh gửi cho bà để kiểm tra. Sau khi kiểm tra bà phát hiện có sự nhầm lẫn, sai sót, nên ngày 23/02/2022 bà đã đến nhà gặp bà S1 để cùng nhau cộng lại sổ sách thu, chi cho rõ ràng cụ thể. Khi gặp thì bà S1 nói đã đốt hết sổ sách rồi. Bà đã nhiều lần đến tìm, gọi điện trực tiếp cho vợ chồng bà S1, ông S để cộng sổ và thanh toán nhưng vợ chồng ông S, bà S1 không hợp tác mà còn có thái độ thách thức, chây ỳ và có dấu hiệu gian lận, tiêu hủy sổ sách chứng cứ.

Ngày 15/10/2021, em gái bà là Cao Thị T1 có cho vợ chồng ông bà S1 vay số tiền 300.000.000đồng để mua sắn khô. Hình thức chuyển khoản ngân hàng với nội dung: "Chuyển tiền cho anh S vay". Thỏa thuận lãi suất theo lãi ngân hàng, thời gian thanh toán là hết tháng 12/2021 (âm lịch). Đến hạn vợ chồng ông S thanh toán trả tiền lãi, còn nợ lại tiền gốc. Em bà nhắn tin, gọi điện đòi khoản tiền này thì ông bà S nói dối quanh co và nói là đã chuyển khoản cho chị gái là Cao Thị T rồi.

Nay bà và em gái Cao Thị T1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông S bà S1 trả tiền cho chị em bà cụ thể như sau:

  • - Trả cho bà Cao Thị T1 số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và tiền tính theo lãi xuất Ngân hàng quy định, thời hạn tính từ tháng 02/2022 đến nay.
  • - Trả cho bà các khoản:
  • + Khoản thứ 1: Ngày 18/12/2021 chú Vi Văn T2 có yêu cầu bà ứng trước 50.000.000₫ về để mua sắn khô nhưng không mua được sắn. Ngày 26/12/2021 ông S đã đến nhà anh T2 lấy lại 50.000.000đồng. Số tiền này ông S cầm chưa đưa lại trả bà. Nay bà yêu cầu ông S phải trả bà 50.000.000đồng.
  • + Khoản thứ 2: Ngày 12/01/2022 ông S bán cho chị Hiền N1 01 xe sắn khô là 48440 kg x 4.500đ/kg = 217.980.000đồng. Ngày 15/01/2022 chị H đã thanh toán trả số tiền mua sắn cho anh S. Nhưng đến ngày 13/2/2022 ông bà S1 làm sổ lại giao cho bà thu tiền 05 xe sắn đã bán trong đó có 01 xe bán cho chị H Ngân 217.980.000đồng, bà không được thu khoản tiền này vì ông S đã thu của chị Hiền N1 rồi. Bà đề nghị Tòa án yêu cầu ông bà S1, S thanh toán trả lại bà số tiền 217.980.000đồng tiền bán sắn cho chị Hiền N1.
  • + Khoản 3: Theo bảng tính toán của bà S1 gửi cho bà thì ngày 15/2/2022 bà S1 đã lấy số tiền ông S bán sắn khô là 10.237.079.000đồng - 9.981.400.000đồng (số tiền bà S1 đã giao cho bà để trả tiền gốc bà đã ứng ra mua sắn), còn lại 255.379.000đồng. Nhưng trên thực tế số tiền bà ứng mua sắn + tổng chi là: 10.379.450.000đồng - 9.981.400.000đồng (tiền bà S1 đã thanh toán cho bà), còn lại là 398.050.000đồng, bà S1 phải thanh toán trả bà. Nhưng bà S1 đã thanh toán trả bà 255.679.000đồng. Do vậy bà S1 còn phải thanh toán trả bà số tiền còn thiếu là 142.371.000đồng. Bà đề nghị Tòa án yêu cầu ông bà S1, S thanh toán trả lại bà số tiền 142.371.000đồng.

Tổng số tiền ông S, bà S1 phải trả bà là 410.351.000đồng và tiền lãi tính theo lãi xuất Ngân hàng, thời hạn tính từ tháng 02/2022 đến nay.

Tại Bản trình bầy ý kiến ngày 29/3/2022, bị đơn bà Đào Thị S1 trình bày:

Gần 20 năm chồng bà lên Điện Biên thu mua nông sản, bà ở nhà chăm sóc con và nội trợ, năm 2021 bà biết chồng bà hợp tác làm ăn với chị T, vì làm ăn chung giữa nam và nữ do không tin tưởng bà yêu cầu chồng bà cho bà đi cùng. Mua bán sắn khô bà không có kinh nghiệm nên mọi việc mua bán xem xét hàng khô, ẩm là do chồng bà đảm nhiệm, việc trả tiền sắn và mọi khoản chi phí đều do chị T chi trả, bà chỉ biết ghi chép theo dõi trên sổ sách khi bán hàng, tiền hàng gửi vào tài khoản chồng bà (S) chồng bà đi rút tiền về đưa bà để bà giao lại cho chị T, mỗi lần bà giao tiền đều có chữ ký xác nhận tiền của chị T.

Trong đơn chị T nói vợ chồng bà không hợp tác thái độ thách thức, trây ỳ có dấu hiệu gian lận, tiêu huỷ chứng cứ là hoàn toàn vu khống và bịa đặt. Bà và ba chị em chị T trong ba ngày (13,14, 15 tháng 2 năm 2022) cùng nhau đối chiếu chi tiết thanh toán các khoản thu, chi và nợ nần.

Khi đã tổng hợp tiền thu mua sắn khô và các khoản chi phí khác như tiền thuê kho, chi phí ăn uống, trả tiền lãi cho chị T... tổng hợp số tiền bán sắn ra đã hạch toán được số bán trừ đi số tiền mua sắn và chi phí lãi được tổng số

162.198.000 đồng chia hai mỗi bên được lãi 81.099.000đồng. Như vậy việc thanh toán đã xong không thể nói vợ chồng tôi không hợp tác trây ỳ được.

Chốt phần mua bán xong bà và chị T thanh toán phần anh S thu tiền và các khoản nợ nần nhau (có kèm theo bán thanh toán có chữ ký của chị T).

Việc chị T khởi kiện vợ chồng bà phải trả số tiền 709.371.000 đồng là hoàn toàn ăn vạ và vu khống có thể chị T nghĩ vợ chồng bà bỏ lại sổ ghi chép thu mua hàng ngày là không giữ lại chứng cứ gì nên chị T nổi lòng tham lam, vu khống, bịa đặt số tiền trên, bà sẽ trình bày, giải thích từng khoản như sau:

  • Khoản thứ 1. Số tiền 50.000.000đồng bà có nhận của anh T2 nhưng trong thời gian chị T đi Sơn La vợ chồng bà ở nhà mua sắn, chi phí 85.500.000đồng (chi tiết bà đã giao cho chị T) đã cộng vào khoản mua và chi phí chung như vậy bà đã trả cho chị T 50.000.000đồng, chị T còn nợ bà 35.500.000đồng, cộng số tiền lãi 81.099.000đồng như vậy chị T nợ bà 116.599.000đồng, số tiền nợ đã trừ nợ cho tôi trong giấy thanh toán
  • Khoản thứ 2: Chị T nói bà bắt chị T phải chịu hai lần số tiền bán cho chị H Ngân 217.980.000đồng là không đúng vì mỗi xe sắn xuất đi số tiền bán được bà với chị T cùng ghi sổ theo dõi, mỗi lần bà đưa tiền cho chị T đều được ký nhận, trong ba ngày cùng nhau thanh toán đã tổng hợp thống nhất xong số tiền hàng anh S bán là 10.237.079.000đồng, tổng số tiền chị T đã nhận 9.981.400.000đồng như vậy số tiền chồng bà (S) thu tiền bản sắn chỉ còn nợ chị T 225.679.000đồng
  • Khoản thứ 3: Không biết chị T có sự nhầm lẫn hay cố tình vì anh S chỉ là người bán và thu tiền số tiền mua và chi, bà với chị T đã thanh toán xong số mua, bán, lãi tiền chị T là người quản lý và chi trả sao có thể lấy số tiền mua sắn + chi trừ số tiền bà giao cho chị T 9.981.400.000đồng mà sao bà lại phải trả cho chị T 142.371.000đồng.
  • Khoản thứ 4: Em chị T có chuyển vào tài khoản của chồng bà (S) 300.000.000đồng để mua sắn là sự thật số tiền này bà đã dùng vào việc mua sắn. Ngày 03/12/2021 bà trả tiền chị T bằng tiền mặt tại nhà Duyên K xã N, huyện Đ, số tiền 115.780.000đồng, chị T đã ký nhận vào sổ của bà (lúc giao tiền có chị D chứng kiến). Như vậy số tiền 300.000.000 đồng bà còn nợ lại 184.220.000đồng, ngày 15/2/2022 bà với chị T thanh toán số tiền 184.220.000đồng đã cộng vào số tiền anh S nợ 184.220.000đồng. Như vậy việc thanh toán trả nợ chị T là đã hoàn tất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H trình bày:

Bà và ông S có quan hệ làm ăn trong việc mua sắn khô của nhau, còn bà với chị T không có quan hệ gì. Bà được biết chị T và ông S có quan hệ làm ăn chung với nhau và có xưởng ở xã N để làm thu mua nông sản, còn việc làm ăn giữa chị T và ông S cụ thể như thế nào bà không biết. Việc làm ăn chỉ có ông S và bà mua bán sắn với nhau. Đầu năm 2022 (không nhớ ngày cụ thể) bà có mua của ông S 48.440kg sắn khô với giá 4.500đ/kg thành tiền là 217.900.000đồng, sau 3 ngày bà đã trực tiếp thanh toán đủ tiền mua sắn cho ông S đầy đủ số tiền trên, giữa bà và ông S không còn nợ nần gì. Hôm mua sắn của ông S, xe ô tô chở

sắn đến là xe 24C - 11.328. Khi mua bán với ông S, bà không kí nhận gì vào sổ sách của ông S vì lái xe làm cho bà có kí vào phiếu cân của ông S. Sau khi giao hàng xong ông Sáu Đ cho bà thông báo đã giao hàng xong và số tiền phải thanh toán. Bà không nhớ là có bớt tiền hay không nếu trong sổ của ông S có ghi lần thanh toán đó bớt 80.000đồng thì là đúng. Trong thời gian từ khi ông S và chị T làm ăn ở xã N cho đến nay, bà không trực tiếp liên hệ hay trực tiếp giao dịch mua bán gì với chị T, việc mua bán sắn là tôi và ông S trực tiếp giao dịch với nhau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vi Văn T2 trình bầy:

Ông S là người xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên lên đây làm ăn từ khoảng năm 2005, 2006, ông S thu mua sắn khô, ông cũng là người đi thu mua sắn khô bán lại cho ông S. Giữa ông và bà T không có mối quan hệ làm ăn gì, ông chỉ biết bà T là kế toán của ông S. Ngày 18/12/2021 ông có nhận tạm ứng của chị T là 50.000.000đồng để đi mua sắn, do lâu ngày nên ông không nhớ số lượng sắn khô cụ thể là bao nhiêu. Số lượng sắn ông mua cho ông S sau khi trừ số tiền chị T tạm ứng để mua cho ông S còn thiếu 23.350.000đồng. Khi ông giao sắn xong thì chị T đã thanh toán nốt số tiền trên cho ông. Ngoài lần chị T tạm ứng tiền cho mua sắn cho ông S trên thì không còn lần nào chị T tạm ứng cho ông số tiền 50.000.000đồng để mua sắn cho ông S, sau đó ông S đến nhà tôi nhận lại số tiền trên.

Đối với giấy xác nhận giao tiền chị T viết là có nội dung số tiền tạm ứng 50.000.000đồng và ông S nhận lại tiền mặt là không đúng. Có lần chị T đưa giấy xác nhận cho ông ký, ông thấy chị T nói có nội dung chị T ứng 50.000.000đồng để mua sắn, ông đã mua sắn và thanh toán xong nên ông đã kí xác nhận nhưng không đọc nội dung giấy xác nhận nên không biết việc bà T ghi nội dung bà T tạm ứng số tiền 50.000.000đồng và ông S đến nhận lại số tiền trên. Ngoài lần ông nhận tiền tạm ứng của chị T để mua sắn khô cho ông S trên, không còn lần nào ông nhận tiền tạm ứng của chị T để mua sắn khô cho ông S. Ông không được chứng kiến việc ông S và bà T thanh toán tiền với nhau, khi ông nhận tiền tạm ứng của bà T thì ông có kí vào sổ của bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST Ngày: 31/7/2024, của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ đã quyết định: Căn cứ khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật dân sự; Các Điều 158, 166, 274, 275, 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T.
    1. Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T số tiền 50.000.000 đồng bà Cao Thị T tạm ứng cho ông Vi Văn T2 để mua sắn và số tiền 217.980.000 đồng tiền bán 01 xe sắn cho bà Phạm Thị H1 (H) vào ngày 15/01/2022. Tổng cộng ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T số tiền là 267.980.000₫ (Hai trăm sáu mươi bẩy triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng).
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T số tiền mua hàng thanh toán còn thiếu là 142.371.000 đồng.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T1 (V).
    1. Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T1 (V) số tiền nợ gốc là 300.000.000đồng và tiền lãi là 44.250.000đồng. Tổng ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T1 (V) số tiền nợ gốc và tiền lãi là 344.250.000₫ (Ba trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành bản án của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm vợ chồng ông S và bà S1 kháng cáo xác định đã quyết toán trả tiền bà T hết rồi nên yêu cầu TAND tỉnh Hưng Yên xử phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T và bà T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông S và bà S1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trên. Về phía bà T không yêu cầu vợ chồng ông S và bà S1 phải trả lãi của khoản tiền 300.000.000₫ mà vợ chồng ông S nợ bà T1.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên xác định quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án: Để nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tổ tụng dân sự xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của vợ chồng ông S và bà S1, chấp nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu vợ chồng ông S phải trả lãi đối với số tiền 300.000.000đ vay của bà T1; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST Ngày: 31/7/2024, của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ đối với khoản tiền vợ chồng ông S và bà S1 phải trả Cao Thị T số tiền 50.000.000 đồng bà Cao Thị T tạm ứng cho ông Vi Văn T2 để mua sắm và số tiền 217.980.000 đồng tiền bán 01 xe sắn cho bà Phạm Thị H1 (H) vào ngày 15/01/2022; và khoản tiền gốc 300.000.000₫ vợ chồng ông S và bà S1 phải trả bà T1 (V).

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về thời hạn kháng cáo: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn S bà Đào Thị S1 trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét.

[2]. Xét kháng cáo của ông S và bà S1:

[2.1] Đối với khoản tiền nợ bà T1 300.000.000₫ và lãi 44.250.000 đồng: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông S và bà S1 đều thừa nhận có nhận số tiền của bà T1 300.000.000đ, phù hợp với sao kê tại Ngân hàng và nội dung sao kê khi bà T1 chuyển tiền cho ông S và bà S1 là “Chuyển tiền cho anh S vay”. Do đó có căn cứ xác định ông S vay của bà T1. Vợ chồng ông S cho rằng đã trả bà T1 thông qua bà T, nhưng bà T không thừa nhận. Về phía ông S và bà S1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả tiền bà T1. Do đó án sơ thẩm buộc

vợ chồng ông S và bà S1 phải trả bà T1 số tiền 300.000.000₫ là có căn cứ. Đối với khoản tiền lãi 44.250.000đ: Theo nội dung khi bà T1 chuyển tiền cho ông S vay không ghi lãi và lãi suất bao nhiêu nên không có căn cứ xác định khoản vay trên là có lãi, tuy nhiên án sơ thẩm vẫn tính lãi là không có căn cứ. Tại phiên tòa bà T không yêu cầu vợ chồng ông S phải trả lãi là phù hợp, nên vợ chồng ông S không phải trả bà T1 số tiền lãi trên.

[2.2] Đối với khoản tiền 267.980.000 đồng bao gồm:

[2.2.1] Số tiền 50.000.000 đồng: Ông S và bà S1 thừa nhận đã nhận tiền mặt từ ông T2, phù hợp với tài liệu bà Thủy cung C. Tuy nhiên bị đơn cho rằng đã đối trừ với số tiền mua sắn 85.500.000 đồng nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh, về phía bà T không thừa nhận nên Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của bị đơn là không có căn cứ.

[2.2.2] Đối với yêu cầu trả khoản tiền 217.980.000đồng ông S bán 01 xe sắn cho bà Hiền N1 vào ngày 12/01/2022.

Theo lời khai của bà T thì xe sắn bán cho bà H1 ngày 12/01/2022, đến ngày 13/02/2022 khi làm sổ thì ông S và bà T lại ghi xe sắn của bà H1 là 01 trong 05 xe sắn giao cho bà T đi thu tiền nhưng thực tế bà T chỉ thu được số tiền bán 04 xe sắn còn riêng xe sắn bán cho bà H1 Ngân thì ông S đã thu tiền nên bà T không thu được. Bà H1 (H) khẳng định ngày 15/01/2022 bà H1 đã thanh toán tiền xe sắn cho ông S là 217.900.000đồng, và về phía ông S cũng thừa nhận đã nhận của bà H1 số tiền trên. Do vậy đủ căn cứ xác định ông S đã nhận tiền bán xe sắn cho bà H1 là 217.900.000đồng.

Quá trình giải quyết vụ án ông S, bà S1 đều khẳng định sau khi nhận tiền do bà H1 trả thì ông S đã trả ngay cho bà T nhưng không ghi sổ nên mới ghi cộng vào thành 05 xe giao cho bà T nhận. Tuy nhiên ông S không xuất trình được căn cứ chứng minh. Mặt khác tại phiên tòa bà T cũng xác nhận ông S nhận của bà H1 và đưa cho bà S1 trả cho bà T, ngày 21/01/2022 bà S1 chỉ giao cho bà T 210.000.000đồng, bà S1 bớt lại để chi Tiêu, bà T đã ký nhận vào sổ giao tiền của bà S1. Tại sổ bà S1 giao tiền cho bà T có ghi: “ngày 21/1 chị S1 giao cho T 210.000.000đồng” và có chữ ký của bà T. Bị đơn ông S, bà S1 cho rằng số xe sắn xuất đi và số tiền bán được mỗi lần đều được chốt sổ và bà T đều có ký nhận và trong 3 ngày thanh toán đã chốt sổ xong tất cả các khoản. Tại giấy thanh toán (BL số 50) do bà T và bà S1 chốt sổ với nhau đã có chữ kí của bà T thể hiện: số tiền bà T nhận hộ là 1.109.421.000 đồng, phù hợp với giấy ghi “Sáng giao T thu tiền” là tài liệu do bà Thủy cung C (BL số 16) thể hiện nội dung bà S1 giao bà T thu tiền 05 xe trong đó có xe 24C-11328 của Hiền N1 là 217.900.000 đồng và tổng số tiền bà T thu tiền bán 05 xe sắn là 1.109.421.000 đồng. Nhưng thực tế như phân tích trên bà T không được nhận số tiền 217.900.000 đồng của bà H1 mà số tiền đó bà H1 đã giao trả ông S. Từ những phân tích trên có căn cứ xác định ông S đã nhận tiền bán xe sắn cho bà H1 là 217.900.000đồng nhưng lại giao cho bà T thu và đối trừ vào tổng số tiền bà T đã nhận là bà T phải chịu hai lần đối với số tiền này. Do vậy yêu cầu của bà T buộc ông S, bà S1 phải trả số tiền 217.900.000đồng bán xe sắn cho bà H1 là có căn cứ chấp nhận, nên kháng

cáo của ông S xác định đã trả bà T số tiền 217.900.000đồng là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã thể hiện quan điểm tại phiên tòa như đã nêu trên là có căn cứ.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn ông S và bà bà S1 được chấp nhận một phần và do phải sửa án sơ thẩm nên ông S, bà S1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 148 bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của vợ chồng ông S và bà Sáng

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số số 04/2024/DS-ST Ngày: 31/7/2024, của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T số tiền 50.000.000 đồng bà Cao Thị T tạm ứng cho ông Vi Văn T2 để mua sắn và số tiền 217.980.000 đồng tiền bán 01 xe sắn cho bà Phạm Thị H1 (H) vào ngày 15/01/2022. Tổng cộng ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T số tiền là 267.980.000đ (Hai trăm sáu mươi bẩy triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng).
  2. Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 phải trả cho bà Cao Thị T1 (V) số tiền nợ gốc là 300.000.000đồng.

Kể từ ngày bà Cao Thị T và bà Cao Thị T1 (V) có đơn yêu cầu thi hành khoản, nếu ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị S1 không chịu thi hành khoản tiền trên phải trả lãi dđối với số tiền và thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí:
    1. Bà Cao Thị T phải chịu 7.118.550₫ (Bảy triệu một trăm mười tám ngàn năm trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 10.500.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0000508 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
    2. Hoàn trả bà Cao Thị T số tiền tạm ứng án phí thừa là 3.381.450đ (Ba triệu ba trăm tám mốt ngàn bốn trăm năm mươi đồng).

    3. Ông Nguyễn Văn S4 và bà Đào Thị S1 phải liên đới chịu 26.680.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    4. Hoàn trả bà Cao Thị T1 (V) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000₫ (Bẩy triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0000507 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

3.4 về án phí phúc thẩm: Ông S và bà S1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả ông S và bà S1 mỗi người 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001024 (của bà S1), biên lai số 0001023 (của ông S) ngày 22/8/2024 của C1 cụ thi hành án dân sự huyện T.

Các quyết định khác của bản án dân sự không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TA, THADS huyện Tiên Lữ
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 15/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger