|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 15/2025/DS-PT Ngày 26 - 02-2025 V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Sỹ và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản. Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 69/2024/QĐ-SCBSBA ngày 04/9/2024 và số 70/2024/QĐ-SCBSBA ngày 06/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1960; trú tại: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
- Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1968; trú tại: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị L, sinh năm 1953;
- Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị L: Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1949 – Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/11/2023) (có mặt);
- Địa chỉ đều ở: Tổ D phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Ông Trần Văn B, sinh năm 1954; trú tại: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
- - Bà Trần Thị T1, sinh năm 1958;
- Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T1: Ông Trần Văn S, sinh năm 1968 – Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/12/2023) (có mặt);
- Địa chỉ đều ở: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị T1: Bà Nguyễn Thị Thúy H – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (có mặt);
- - Bà Dương Thị Thanh H1, sinh năm 1973; trú tại: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
- - Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V; địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người đại diện theo pháp luật của UBND phường T: Ông Phùng Đắc C – Chủ tịch;
- Người đại diện hợp pháp của ông Phùng Đắc C: Ông Đỗ Tiến T2 – Phó Chủ tịch UBND phường T – Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2023) (vắng mặt);
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn S;
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày: Bố ông là cụ Trần Văn H2, chết năm 1988, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị X, chết ngày 02/6/2014. Bố mẹ ông kết hôn và sinh được 05 người con gồm: Bà Trần Thị L, ông Trần Văn B, bà Trần Thị T1, ông là Trần Văn T và ông Trần Văn S. Ngoài những người con đẻ trên thì bố mẹ ông không có con nuôi, con riêng nào khác. Bố mẹ đẻ ra cụ H2 là cụ Trần Văn T3 và cụ Vũ Thị Đ đều đã chết từ lâu, từ những năm 1940. Bố mẹ đẻ cụ X là cụ Nguyễn Khắc L1, chết năm 1959 và cụ Trần Thị V1, chết năm 1984. Như vậy, hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông gồm 05 người con đẻ có tên ở trên.
Về di sản thừa kế: Khi còn sống, bố mẹ ông và các anh chị em ông sinh sống trên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39; địa chỉ: Xóm G (nay là tổ dân phố G), phường T, thành phố V. Diện tích đất ban đầu khoảng 1.000m². Nguồn gốc thửa đất là do ông bà ngoại ông cho mẹ ông. Đến khoảng năm 1994 khi đó bố ông đã chết từ lâu (năm 1988), mẹ ông cùng các con (anh chị em ông) có họp gia đình thống nhất chia cho 03 người con trai mỗi người 01 phần diện tích đất nằm trong thửa đất trên (ông được chia khoảng 250m²; ông B được chia khoảng 150m² và ông S được chia khoảng hơn 300m²), phần diện tích còn lại là của mẹ ông 323,2m². Thửa đất trên của mẹ ông đã bị thu hồi theo Quyết định số 295/QĐ – UBND ngày 20/4/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố V để thực hiện xây dựng dự án mở rộng khu du lịch và vui chơi giải trí Đầm Vạc của Công ty cổ phần X1. Đến ngày 27/12/2009 mẹ ông đã được đền bù bằng 02 thửa đất gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 14 và 15 đều thuộc bản đồ số QH; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V theo Quyết định số: 2284/QĐUB ngày 27/12/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố V. Đến ngày 16/8/2010 Ủy ban nhân dân thành phố V đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả hai thửa đất trên đứng tên mẹ ông là Nguyễn Thị X. Toàn bộ thủ tục nhận đất và kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 02 thửa đất tái định cư đều do mẹ ông và ông Trần Văn S trực tiếp nhận và làm thủ tục. Thời điểm đó mẹ ông còn sống và hoàn toàn minh mẫn.
Như vậy, ông xác định di sản thừa kế của mẹ ông để lại gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 14, tờ bản đồ số: QH, diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 137m² đất ở đô thị (qua đo đạc thực tế diện tích đất là 137,4m²) và thửa đất số 15, tờ bản đồ QH, diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 141,5m² đất ở đô thị (qua đo đạc thực tế có diện tích là 133,4m²); địa chỉ đều ở: Đường Đ, tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông không có ý kiến gì về diện tích đất lớn hơn và nhỏ hơn như trên, ông nhất trí với diện tích đất thực tế trên. Trên đất hiện tại không có tài sản gì.
Về bản di chúc lập ngày 16/10/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T với nội dung: Mẹ ông tặng cho vợ chồng ông S, bà H1 toàn bộ thửa đất số: 12 có diện tích 323,2m² và 04 gian nhà cấp 4 ở trên đất; Địa chỉ: Xóm G (nay là tổ dân phố G), phường T, thành phố V. Việc mẹ ông lập bản di chúc trên các anh chị em ông đều không biết. Ông thấy rằng tại thời điểm lập di chúc thì thửa đất trên đã bị thu hồi. Việc thu hồi đất là công khai, hợp pháp bản thân mẹ ông và ông S là người đi kê khai thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ ông đối với 02 thửa đất được bồi thường. Ngoài ra, tại văn bản số: 120/ HC-UBND ngày 15/5/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, có nội dung không công nhận di chúc của mẹ ông vì trước khi lập di chúc đất đã bị thu hồi và sau khi mẹ ông được giao đất mới thì mẹ ông phải ra Uỷ ban nhân dân phường điều chỉnh di chúc nhưng mẹ ông không làm. Do vậy, bản di chúc trên của mẹ ông là không có giá trị pháp lý.
Đến ngày 18/5/2017 ông S có đánh sẵn 01 biên bản họp gia đình gồm có ông, ông Trần Văn B, ông Trần Văn S, bà Trần Thị L và bà Trần Thị T1 có nội dung: “Khi còn sống bà Nguyễn Thị X đã lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất và tài gắn liền trên thửa đất số: 12, tờ bản đồ 39, diện tích 323,2m². Nay gia đình chúng tôi lập Biên bản họp gia đình này thống nhất để lại cho ông Trần Văn S toàn bộ (02) thửa đất nêu trên theo di chúc mẹ chúng tôi để lại”. Biên bản họp gia đình trên có người làm chứng là ông Dương Văn K – Là trưởng xóm G, phường T, không có công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Có chữ ký của phó chủ tịch Bùi Thị H3 trong biên bản nhưng chỉ là xác nhận nội dung ông Dương Văn K là tổ trưởng tổ dân phố X có chữ ký người làm chứng trong biên bản họp gia đình chứ không phải xác nhận nội dung thỏa thuận phân chia tài sản của mẹ ông.
Ngoài ra, ngày 09/6/2017 ông S lại đánh sẵn 01 văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có các thành phần gồm có các anh chị em trong gia đình, cùng nội dung thống nhất để lại toàn bộ tài sản thừa kế của mẹ ông để lại theo bản di chúc là có hiệu lực. Biên bản trên được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, sau đó Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử tại bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2018/DS – ST ngày 28/6/2018 tuyên văn bản trên là vô hiệu.
Do vậy, ông xác định bản di chúc ngày 16/10/2009; biên bản họp gia đình ngày 18/5/2017 và văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 09/6/2017 đều không có giá trị pháp lý nên ông đề nghị Tòa án không chấp nhận chia di sản thừa kế theo di chúc của mẹ ông lập ngày 16/10/2009 theo yêu cầu của ông S, bà H1. Đề nghị tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của mẹ ông theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông gồm: Ông B, bà L, bà T1, ông và ông S.
- - Đối với ý kiến của bà T1 đề nghị trích ra một khoản tiền từ di sản thừa kế của mẹ ông do bà T1 là con đang phải sống nương nhờ với số tiền là 150.000.000 đồng (bằng 5m² đất) ông đồng ý.
- - Về công sức tôn tạo, giữ gìn đất, giữ gìn đất: Ông xác định không có công sức tôn tạo, giữ gìn đất nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về chi phí mai táng phí cho mẹ ông: Khi mẹ ông chết các anh chị em trong gia đình cùng nhau lo đám hiếu cho cụ X nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết về phần mai táng phí.
- - Về chi phí thẩm định và định giá: Ông xin tự nguyện chịu toàn bộ số tiền 15.000.000 đồng, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với số tiền này.
- - Về hình thức chia: Quá trình giải quyết vụ án ông B và ông V là người đại diện theo ủy quyền của bà L đồng ý để cho ông được sử dụng phần di sản bằng hiện vật (đất) ông B, bà L được chia, ông phải thanh toán tiền tương ứng với giá trị đất cho bà L, ông B. Ông đồng ý với ý kiến trên của ông B, ông V. Đề nghị Tòa án chia cho ông được hưởng phần di sản bằng hiện vật (đất), sau khi trừ đi phần di sản thừa kế của ông được hưởng, ông đồng ý thanh toán tiền tương ứng với giá trị đất cho bà L, ông B.
Bị đơn ông Trần Văn S quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ông thừa nhận về thời điểm bố mẹ ông chết, hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông và di sản thừa kế là bất động sản của mẹ ông để lại như nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày là đúng.
Khi còn sống mẹ ông có nói về nguồn gốc thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 là do mẹ ông mua của hai cụ ngoại diện tích ban đầu khoảng 1.000m², sau đó mẹ ông chia cho ba người con trai là ông T, ông B và ông mỗi người một phần đất, phần còn lại có diện tích 323,2m² là của mẹ ông. Như vậy, ông xác định thửa đất trên là tài sản riêng của một mình mẹ ông.
Ngày 25/10/2008 mẹ ông và các anh chị em ông có họp gia đình đều thống nhất ý nguyện của mẹ ông là cho ông toàn bộ phần diện tích đất là 323,2m², ông phải có trách nhiệm chăm sóc mẹ ông khi già yếu và chăm sóc chị gái ông là bà Trần Thị T1. Tại buổi họp trên, mẹ ông và các anh chị em trong gia đình đều ký vào biên bản họp, có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Tiến S1 là trưởng khu xóm G không có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau đó vào ngày 16/10/2009, mẹ ông có lập lại di chúc tặng cho ông và vợ ông là bà Dương Thị Thanh H1 toàn bộ diện tích đất là 323,2 m² tại thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 cùng 04 gian nhà cấp bốn ở xóm G (nay là tổ dân phố G), phường T. Di chúc này được lập tại Ủy ban nhân dân phường T, có xác nhận của ông Lưu Văn H4 là chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T được vào sổ chứng thực số 31, quyển số 01 ngày 16/10/2009. Việc lập di chúc hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.
Sau này ông mới biết vào năm 2007, thửa đất trên của mẹ ông và đất của anh em ông tại khu vực xóm G (nay là tổ dân phố G) bị thu hồi theo Quyết định số: 295/QĐ - UBND ngày 20/4/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố V. Đến ngày 27/12/2009, gia đình ông nhận được Quyết định số: 2284/QĐ –UBND của Ủy ban nhân dân thành phố V ngày 27/12/2009 về việc giao đất tái định cư đối với thửa đất bị thu hồi (thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 diện tích là 323,2m²) theo quyết định giao đất năm 2009 thì mẹ ông được giao 02 ô đất tại thửa số: 14 và thửa số: 15 đều thuộc tờ bản đồ: QH; Địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Như vậy 02 thửa đất được giao tái định cư của mẹ ông thực tế là được bồi thường của thửa đất số 12, tờ bản đồ số: 39 (thửa đất này mẹ ông đã lập di chúc cho vợ chồng ông ngày 16/10/2009). Ông nhất trí với giá trị đất theo kết quả định giá ngày 24/01/2024 và đồng ý với diện tích đất theo kết quả đo đạc thẩm định ngày 24/01/2024 (Diện tích đất lớn hơn hoặc nhỏ hơn ông cũng nhất trí, không có ý kiến gì).
Đối với biên bản họp gia đình ngày 18/5/2017 là do thời điểm đó vợ chồng ông không hiểu quy định của pháp luật, khi vợ chồng ông đem hồ sơ đến Ủy ban nhân dân phường T để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông theo bản di chúc, thì được cán bộ phường hướng dẫn vợ chồng ông phải làm Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Biên bản họp gia đình trên có mặt của các anh chị em gồm: Vợ chồng ông, ông B, ông T, bà L và bà T1. Ngoài ra, có sự chứng kiến của tổ trưởng tổ dân phố là ông Dương Văn K và có chữ ký của bà Bùi Thị H3 là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ngày 15/6/2017.
Sau khi lập biên bản họp gia đình ngày 18/5/2017 xong, ông tiếp tục được hướng dẫn phải lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Văn phòng công chứng lập mới có giá trị pháp lý. Do vậy, ngày 09/6/2017 ông lại nhờ Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, Văn bản trên đã bị tuyên vô hiệu theo bản án dân sự sơ thẩm xét xử ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên. Ông không có ý kiến gì đối với bản án trên.
- - Về công sức tôn tạo, giữ gìn di sản thừa kế: Ông xác định không có công sức tôn tạo, hay giữ gìn gì trên đất nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về chi phí mai táng phí cho mẹ ông: Khi mẹ ông chết các anh chị em trong gia đình cùng nhau lo đám hiếu cho mẹ ông nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết về phần mai táng phí.
- - Đối với ý kiến của bà T1 trong quá trình giải quyết vụ án có đề nghị trích ra một khoản tiền từ di sản thừa kế của mẹ ông để lại cho bà T1, do bà T1 là con đang phải sống nương nhờ với số tiền là 150.000.000 đồng (bằng 5m² đất) ông đồng ý, không có ý kiến gì. Vì theo nội dung bản di chúc thì vợ chồng ông có trách nhiệm nuôi dưỡng bà T1 đến trọn đời.
Từ các lý do trên ông thấy rằng, bản di chúc lập ngày 16/10/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V của mẹ ông là hợp pháp. Đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo di chúc ngày 16/10/2009 của mẹ ông để lại toàn bộ tài sản cho vợ chồng ông. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của mẹ ông để lại theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Trần Văn B quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ông thừa nhận toàn bộ lời trình bày của ông Trần Văn T về thời điểm bố mẹ ông chết; hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông; di sản thừa kế là bất động sản; nguồn gốc di sản thừa kế; tài sản trên đất và thời điểm mở thừa kế của mẹ ông như ông T trình bày là đúng.
Sau khi mẹ ông chết ông mới được biết vào ngày 16/10/2009, mẹ ông có lập lại di chúc tặng cho ông S và vợ ông S là bà Dương Thị Thanh H1 toàn bộ phần diện tích còn lại là 323,2m² tại thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 cùng 04 gian nhà cấp bốn ở Xóm G, phường T. Tuy nhiên, tại văn bản số: 120/HC – UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân phường T có nội dung “Không công nhận di chúc lập ngày 16/10/2009 của mẹ tôi vì trước khi lập di chúc đất đã bị thu hồi”.
Sau đó, đến ngày 18/5/2017 ông S đánh sẵn 01 biên bản họp gia đình gồm có: Ông, ông Trần Văn T, ông Trần Văn S, bà Trần Thị L và bà Trần Thị T1 có nội dung: “Khi còn sống bà Nguyễn Thị X đã lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất và tài gắn liền trên thửa đất số: 12, tờ bản đồ 39, diện tích 323,2m². Nay gia đình chúng tôi lập Biên bản họp gia đình này thống nhất để lại cho ông Trần Văn S toàn bộ (02) thửa đất nêu trên theo di chúc mẹ chúng tôi để lại”. Biên bản họp gia đình trên có người làm chứng là ông Dương Văn K – Là trưởng xóm G, phường T, không có công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Chữ ký của phó chủ tịch Bùi Thị H3 trong biên bản chỉ là xác nhận nội dung ông Dương Văn K là tổ trưởng tổ dân phố X có chữ ký người làm chứng trong biên bản họp gia đình.
Ngoài ra, ngày 09/6/2017 ông S lại đánh sẵn 01 văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có các thành phần gồm có các anh chị em trong gia đình, cùng nội dung thống nhất để lại toàn bộ tài sản thừa kế của mẹ tôi là có hiệu lực. Biên bản trên sau được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, sau đó đã bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử tại bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2018/DS – ST ngày 28/6/2018 tuyên là vô hiệu.
Ông khẳng định hai thửa đất trên là di sản thừa kế chưa chia của mẹ ông để lại. Do vậy, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của vợ chồng ông S, bà H1 theo di chúc của mẹ ông lập ngày 16/10/2009. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của mẹ ông để lại là 02 thửa đất trên cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông. Ông có ý kiến chia như sau: 02 thửa đất đều có chiều rộng mặt đường mỗi thửa là 05m, tổng chiều rộng của 02 thửa là 10m. Hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông là 5 người. Do vậy, không thể chia đều cho các hàng thừa kế bằng đất được. Nay ông đồng ý để cho ông Trần Văn T em trai ông nhận bằng đất đối với kỷ phần di sản thừa kế ông được chia. Ông T có trách nhiệm thanh toán tiền tương đương với giá trị phần đất ông được hưởng. Ông nhất trí với giá trị đất theo kết quả định giá ngày 24/01/2024 và diện tích đất theo kết quả đo đạc thẩm định ngày 24/01/2024.
- Đối với ý kiến của bà T1 đề nghị trích ra một khoản tiền từ di sản thừa kế của mẹ ông cho bà T1, do bà T1 là con đang phải sống nương nhờ với số tiền là 150.000.000 đồng (bằng 5m² đất) ông đồng ý, không có ý kiến gì.
- Về công sức tôn tạo, giữ gìn đất: Ông không có công sức gì nên không yêu cầu giải quyết.
- Về chi phí mai táng phí cho mẹ ông: Khi mẹ ông chết các anh chị em trong gia đình cùng nhau lo đám hiếu cho cụ X nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết về phần mai táng phí.
Bà Trần Thị L, người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị L là ông Nguyễn Xuân V trình bày: Ông thừa nhận toàn bộ lời trình bày của ông Trần Văn T về thời gian chết của cụ H2 và cụ X; hàng thừa kế thứ nhất của cụ X; nguồn gốc di sản thừa kế; di sản thừa kế là bất động sản; tài sản trên đất và thời điểm mở thừa kế của cụ X như ông T trình bày là đúng.
- Về công sức tôn tạo, giữ gìn đất và tiền mai táng phí cho cụ X: Ông xác định là không có nên không yêu cầu giải quyết.
- Đối với ý kiến của bà T1 đề nghị trích ra một khoản tiền từ di sản thừa kế của cụ X do bà T1 là con đang phải sống lương nhờ với số tiền là 150.000.000 đồng (bằng 5m² đất) ông đồng ý, không có ý kiến gì.
Theo ông thì bản di chúc của cụ Nguyễn Thị X mẹ vợ ông lập ngày 16/10/2009 là không có hiệu lực nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông S, bà H1 chia di sản thừa kế của cụ X theo di chúc trên. Ông khẳng định hai thửa đất trên là di sản thừa kế chưa chia của cụ X để lại. Nay ông T làm đơn khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật đối di sản thừa kế là 02 thửa đất gồm: Thửa đất số: 14 và thửa đất số: 15; tờ bản đồ số: QH; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, ông có ý kiến như sau: 02 thửa đất đều có chiều rộng mặt đường mỗi thửa là 05m, tổng chiều rộng của 02 thửa là 10m. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ X là 5 người. Do vậy, không thể chia đều cho các hàng thừa kế bằng đất được. Nay ông đồng ý để cho ông Trần Văn T và ông Trần Văn S được chia bằng đất. Ông T và ông S có trách nhiệm thanh toán tiền tương đương với giá trị phần đất bà L được hưởng. Ông nhất trí với giá trị đất theo kết quả định giá ngày 24/01/2024 và diện tích đất theo kết quả đo đạc thẩm định ngày 24/01/2024.
Bà Trần Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T1 là ông Trần Văn S trình bày: Bà T1 thừa nhận toàn bộ lời trình bày của ông Trần Văn T, ông Trần Văn S về thời điểm cụ H2 và cụ X chết; hàng thừa kế thứ nhất của cụ X; nguồn gốc di sản thừa kế; di sản thừa kế là bất động sản và tài sản trên đất và thời điểm mở thừa kế của cụ X như ông T và ông S trình bày ở trên là đúng. Từ khi sinh ra bà T1 ở với bố mẹ, sau khi bố chết thì bà T1 ở với mẹ là cụ X. Từ năm 2008 thì bà T1 cùng mẹ ở với vợ chồng ông S. Từ nhỏ bà T1 bình thường, đến năm 2008 bà T1 bị bệnh rối loạn tâm thần bị ảnh hưởng tâm lý, bà T1 được gia đình đưa đi chữa trị tại bệnh viện. Bệnh của bà T1 đã giảm và về nhà sinh hoạt bình thường. Hàng ngày bà T1 không làm gì, sống cùng với vợ chồng ông S. Thỉnh thoảng bà T1 có bị ốm và ông S đều là người đưa bà T1 đi viện, chăm sóc bà T1. Hàng tháng bà T1 có được hưởng trợ cấp xã hội số tiền là 894.000 đồng/01 tháng.
Với yêu cầu khởi kiện của ông T về việc chia di sản thừa kế của cụ X để lại, bà T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trước đây bà T1 có biết khi còn sống cụ X có lập 01 bản di chúc cho vợ chồng ông S đất (Tặng cho vợ chồng ông S thửa đất cũ của mẹ bà ở xóm G). Trường hợp Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo pháp luật hay chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ X lập ngày 16/10/2009 thì bà vẫn được hưởng một phần di sản thừa kế của mẹ bà. Phần bà được hưởng bà xin được nhận bằng tiền, để cho ông S được hưởng phần đất của bà được chia, ông S phải thanh toán tiền bằng giá trị đất phần bà T1 được hưởng.
Do bà T1 không được nhanh nhẹn như người bình thường, sống phải nương nhờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước và vợ chồng ông S nên bà T1 đề nghị trước khi Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của mẹ bà để lại thì đề nghị Tòa án trích ra một khoản tiền khoảng 150.000.000 đồng tương đương với 5m² đất cho bà T1 theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Thúy H – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Vĩnh Phúc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị T1 trình bày: Với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của nguyên đơn ông Trần Văn T. Bà đồng ý với toàn bộ lời trình bày của ông Trần Văn S là người đại diện theo ủy quyền của bà T1. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1.
Bà Dương Thị Thanh H1 trình bày: Bà là vợ ông Trần Văn S (ông S là con trai của cụ Trần Văn H2 và cụ Nguyễn Thị X). Bà kết hôn với ông S năm 1994, kết hôn xong bà về làm dâu và sống chung cùng gia đình ông S tại thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39; địa chỉ: Xóm G cũ nay là tổ dân phố G, phường T. Thời điểm đó bố chồng bà đã chết từ lâu, các anh chị em lớn đã lập gia đình và ra ở riêng. Do chồng bà là con út nên vợ chồng bà ở cùng mẹ chồng là cụ Nguyễn Thị X và chị gái chồng là bà Trần Thị Thanh M thời gian sau đó vợ chồng ra ở riêng. Vào năm 2008 khi đó mẹ chồng bà đã già yếu, nên anh chị em bên chồng có họp giao trách nhiệm nuôi mẹ chồng và bà T1 cho vợ chồng bà. Sau khi thống nhất xong thì mẹ chồng và các anh chị em đều nhất trí phần diện tích đất còn lại của mẹ chồng bà là 323,2m² tại thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 sẽ cho vợ chồng bà, vợ chồng bà có trách nhiệm chăm sóc mẹ và bà T1 đến khi chết. Sau đó đến ngày 16/10/2009, mẹ chồng bà có lập bản di chúc tại Ủy ban nhân dân phường T tặng cho toàn bộ thửa đất trên cho vợ chồng bà.
Việc Ủy ban nhân dân thành phố V có quyết định thu hồi thửa đất trên của mẹ chồng bà năm 2007, cả gia đình bà không được biết vì trên thực tế Ủy ban không thông báo và không gửi quyết định thu hồi đất cho gia đình bà. Sau rất nhiều lần động viên, nhiều cuộc họp với nội dung thu hồi đất của các hộ dân tại vị trí xung quanh thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 để Ủy ban làm khu vui chơi giải trí, nhưng không giao quyết định thu hồi cho các hộ dân vào năm 2007. Đến tháng 12/2009, gia đình bà được cán bộ Công ty X1 giao quyết định số: 2284/QĐ – UBND của Ủy ban nhân dân thành phố V ngày 27/12/2009, lúc này gia đình bà mới biết thửa đất trên của mẹ chồng bà và của các anh chị em khác giáp đó đã bị thu hồi từ năm 2007 và được đền bù tái định cư tại vị trí khác ở tổ dân phố G, phường T. Cụ thể thu hồi diện tích của mẹ chồng bà là 323,2m² thì mẹ chồng bà được đền bù tái định cư 02 thửa đất gồm: Thửa đất số: 14 diện tích 137m² và thửa số: 15 diện tích 132,5m²; tờ bản đồ số: QH ở đường Đ, tổ dân phố G, phường T. Sau khi mẹ chồng bà được nhận đền bù đất và một khoản tiền thì gia đình đồng ý, tiếp tục sử dụng đất tái định cư từ đó đến nay.
Đến khi mẹ chồng bà sắp chết, vợ chồng bà mới biết mẹ chồng bà có để lại bản di chúc tặng cho đất cho vợ chồng bà. Do vậy bà đề nghị Tòa án công nhận bản di chúc của mẹ chồng bà lập năm 2009 là hợp pháp (kể cả trong bản di chúc có ghi thửa đất trước khi được đền bù tái định cư nhưng trên thực tế thì 02 thửa đền bù vẫn là đất của mẹ chồng bà đã tặng cho vợ chồng bà).
Từ các lý do trên, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn T. Chia di sản thừa kế theo di chúc của mẹ chồng bà lập ngày 16/10/2009 cho vợ chồng bà.
Đại diện Ủy ban nhân dân phường T trình bày: Về bản di chúc của cụ Nguyễn Thị X, khi còn sống cụ Nguyễn Thị X có lập 01 bản di chúc thừa kế tài sản ngày 16/10/2009, bản di chúc trên được cụ X lập tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V với nội dung: Cụ X có 01 thửa đất có diện tích là 323,2m² tại thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 cùng 04 gian nhà cấp 4 ở xóm G cũ. Cụ X đồng ý cho con trai thứ 5 của cụ là ông Trần Văn S và con dâu là Dương Thị Thanh H1 được thừa hưởng số tài sản cùng diện tích đất nói trên. Ông S, bà H1 phải có trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ và chị gái là Trần Thị T1 đến trọn đời. Do cụ X không biết chữ nên có nhờ ông Mai Văn N là hàng xóm cùng sống ở xóm G, phường T, thành phố V viết hộ di chúc. Có người làm chứng là trưởng khu Gách Ông Nguyễn Tiến S1. Tại thời điểm lập di chúc cụ X hoàn toàn minh mẫn, không bị ai xúi giục, không ai ép buộc. Sau khi nhờ ông N viết hộ bản di chúc, vào ngày 16/10/2009 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T bản di chúc trên đã được các bên có mặt đọc lại nội dung bản di chúc, đồng ý ký tên và điểm chỉ vào bản di chúc. Bản di chúc được chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ông Lưu Văn H4 (ông H4 hiện nay đã chết) ký lời chứng và được vào sổ chứng thực tại Quyển số: 01, số chứng thực 31 ngày 16/10/2009. Di chúc được lập thành 02 bản chính, giao cho người lập di chúc 01 bản chính và lưu tại Ủy ban nhân dân phường T 01 bản chính.
Vào ngày 13/9/2018 (sau khi cụ X chết năm 2014), theo yêu cầu của ông Trần Văn S, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T đã mở phiên họp để thông qua nội dung đề nghị mở di chúc của ông S. Tại buổi Họp Ủy ban nhân dân phường đã tiến hành mở di chúc lưu giữ tại Ủy ban.
Sau khi di chúc được mở, ông S có đơn đề nghị Ủy ban làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S theo bản di chúc của cụ X. Ngày 15/5/2019 thay mặt Ủy ban nhân dân phường T ông Nguyễn Ngọc H5 là chủ tịch Ủy ban có ký công văn số: 120 về việc trả lời đề nghị của ông Trần Văn S. Theo nội dung công văn thì bản di chúc của cụ X lập ngày 16/10/2009 không đảm bảo để thực hiện việc khai nhận tài sản là quyền sử dụng đất theo đề nghị của ông Trần Văn S. Do thời điểm lập di chúc thì tài sản thừa kế của cụ X là thửa đất số: 12, tờ bản đồ số: 39 diện tích 323,2m² đã bị thu hồi vào ngày 20/4/2007 (thu hồi trước thời điểm lập di chúc).
Do ông S tiếp tục có đơn đề nghị được đăng ký nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc của cụ X lập ngày 16/10/2009 nên ngày 08/8/2019 thay mặt Ủy ban nhân dân phường T ông Nguyễn Ngọc H5 đã ký tiếp công văn số: 207/HC – UBND về việc trả lời đơn đề nghị của ông Trần Văn S nội dung của công văn: Bản di chúc của cụ X không đảm bảo để thực hiện việc khai nhận tài sản là quyền sử dụng đất theo đề nghị của ông Trần Văn S. Đề nghị ông Trần Văn S thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Vào ngày 18 tháng 8 năm 2021 ông Trần Văn S có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên hủy công văn số: 120/HC – UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân phường T. Ủy ban nhân dân phường T là người bị kiện trong vụ án. Ngày 19/8/2022 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã xét xử vụ án và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông S do yêu cầu khởi kiện của ông S đã hết thời hiệu khởi kiện. Ông S không có quyền khởi kiện lại vụ án đối với nội dung khởi kiện này. Ngoài ra, Tòa án còn quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S về việc buộc Ủy ban nhân dân phường T xác nhận các thủ tục hành chính, để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông S đối với 02 thửa đất tái định cư là ô đất số 14 và lô đất số 15; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện tại địa phương xác nhận thửa đất số: 14 và thửa đất số: 15, tờ bản đồ số QH; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn là đất của cụ Nguyễn Thị X. Nguồn gốc: Được Ủy ban nhân dân thành phố V giao đất tái định cư cho hộ gia đình thuộc diện bồi thường GPMB xây dựng mở rộng khu du lịch, dịch vụ, vui chơi giải trí Đầm Vạc của công ty Cổ phần X1 tại phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (theo Quyết định số: 2284/QĐ - UBND ngày 27/12/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố V).
Ủy ban nhân dân phường T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật đối với vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Trần Văn T và bị đơn ông Trần Văn S.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự số 21/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 136; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651; 652 Điều 658; Điều 660 và Khoản 2 Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 147 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị X để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 14, tờ bản đồ số QH, diện tích thực tế là 137,4 m², đất ở tại đô thị và quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 15, tờ bản đồ số QH, diện tích đất theo đo đạc thực tế là 133,4m² đất ở tại đô thị; địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/8/2010 đứng tên cụ Nguyễn Thị X.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn S, bà Dương Thị Thanh H1 yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ Nguyễn Thị X lập ngày 16/10/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T.
Chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn Thị X như sau:
Ông Trần Văn T được sở hữu, sử dụng quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 14, tờ bản đồ số: QH, diện tích thực tế là 137,4m², đất ở tại đô thị; địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố G, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/8/2010 đứng tên cụ Nguyễn Thị X, được giới hạn bởi các mốc: 1,2,3,6,1 cụ thể: Cạnh 1 – 2 = 27,90m giáp đất ông B; cạnh 2 – 3 = 5,11m giáp mương; cạnh 3 – 6 = 27,00m giáp thửa đất 15 của cụ X; cạnh 6 – 1 = 5,00m giáp đường Đ. Trên đất không có tài sản.
Ông Trần Văn S được sở hữu, sử dụng quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 15, tờ bản đồ số QH, diện tích đất theo đo đạc thực tế là 133,4m², đất ở tại đô thị; địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố G phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/8/2010 đứng tên cụ Nguyễn Thị X, được giới hạn bởi các mốc: 3,4,5,6,3 cụ thể: Cạnh 3 – 4 = 5,10m giáp mương; Cạnh 4 – 5 = 26,20m giáp đất bà H3; Cạnh 5 – 6 = 5,00m giáp đường Đ; Cạnh 6 – 3 = 27,00m giáp thửa đất số: 14 của cụ X. Trên đất không có tài sản.
(Có sơ đồ hiện trạng do Công ty cổ phần T4 thực hiện việc đo vẽ kèm theo bản án).
Buộc ông Trần Văn T phải thanh toán cho ông Trần Văn B số tiền là 1.594.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm chín mươi tư triệu đồng) và thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền là 932.400.000 đồng (Chín trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Buộc ông Trần Văn S phải thanh toán cho bà Trần Thị T1 số tiền là 1.744.800.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm bốn mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng) và thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền là 662.400.000 đồng (Sáu trăm, sáu mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
[3]. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện chịu và đã chi phí xong toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định và định giá nguyên đơn ông Trần Văn T đã nộp số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
[4]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn S phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 59.800.000 đồng (Năm mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng). Miễn toàn bộ án phí cho ông Trần Văn T, bà Trần Thị L, ông Trần Văn B và bà Trần Thị T1.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn S phải nộp 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006042 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên. Ông Trần Văn S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
[5]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Nghĩa |
Bản án số 15/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 15/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
