Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS - PT

Ngày: 18 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn San và ông Nguyễn Đức Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLPT- DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày 30/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa.........của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1973 và anh Trần Đức M, sinh năm 1969. Người đại diện theo uỷ quyền của anh M là: Chị Trần Thị T, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam(Theo văn bản uỷ quyền ngày 24/3/2025).

Người đại diện theo uỷ quyền đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị T: Ông Nguyễn Thành L - Luật sư Công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A, ngõ D Cầu Đ, H, quận H, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị T1, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện nay: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Hữu H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

2. Anh Trần Quang Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Từ ngày 21/5/2018 (tức ngày 07/4/2018 âm lịch) đến ngày 08/8/2020, vợ chồng chị T và anh M đã nhiều lần cho chị Trần Thị T1 vay tiền mặt với tổng số tiền khoảng 30 tỷ đồng. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất vay là 2,5%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả, không có thế chấp tài sản, không có người làm chứng và đều không có xác nhận của chính quyền địa phương. Việc vay tiền chỉ có vợ chồng chị T, anh M và chị T1. Khi nhận tiền và trả tiền thì hai bên đều thực hiện tại nhà riêng của vợ chồng chị T hoặc có lần nhận, trả tiền tại nhà của chị T1. Mỗi lần vay tiền chị T1 đều là người tự viết số tiền đã vay và đều ký nhận vào sổ ghi nợ, cuốn sổ trên hiện đang do chị T cất giữ. Theo chị T được biết mục đích chị T1 vay tiền để đầu tư kinh doanh, mua đất, làm nhà và cho nhiều người khác vay lại để lấy lãi chênh lệch. Chị T xác nhận lần chị T1 vay tiền nhiều nhất của vợ chồng chị là hơn 01 tỷ đồng, những lần còn lại là vay số tiền dưới 01 tỷ đồng. Từ khi bắt đầu vay tiền đến tháng 9/2019, hàng tháng chị T1 đều trả tiền lãi theo thỏa thuận và một phần tiền gốc. Tuy nhiên kể từ tháng 10/2019, chị T1 không trả vợ chồng chị T một khoản tiền gốc, tiền lãi nào. Đến ngày 08/8/2020, chị T1 và vợ chồng chị T đã tiến hành chốt sổ nợ, chị T1 còn nợ vợ chồng chị T tiền gốc là 26 tỷ 150 triệu đồng và tiền lãi là 05 tỷ 092 triệu đồng. Vợ chồng chị T đã nhiều lần yêu cầu chị T1 phải thanh toán trả tiền nhưng kể từ tháng 8/2020 đến nay chị T1 chưa trả một khoản tiền gốc, tiền lãi nào với lý do làm ăn thua lỗ nên không có tiền trả nợ.

Vì không có khả năng trả nợ nên đầu năm 2021, chị T1 đã đặt vấn đề với vợ chồng chị T dùng thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 tại địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L cùng ngôi nhà và các tài sản gắn liền trên đất của gia đình chị T1 để gán nợ. Vợ chồng chị T sẽ đưa thêm cho chị T1 02 tỷ đồng để chị T1 trả nợ ngân hàng và chị T1 sẽ nợ vợ chồng chị T thêm 02 tỷ đồng, nhưng vợ chồng chị T chỉ đồng ý mua với giá trị thực tế của thửa đất và các tài sản trên đất nên hai bên không thống nhất được việc mua bán nhà, vì vậy chị T1 không đồng ý bán lại thửa đất trên cho vợ chồng chị T.

Đến tháng 3/2021, chị T và anh M được biết chị T1 đã bán thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 và các tài sản gắn liền trên thửa đất của gia đình chị T1 cho

anh Trần Quang Q với giá 02 tỷ 700 triệu đồng. Tuy nhiên sau khi có được tiền chị T1 lại không trả nợ cho vợ chồng chị T mà mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ngày 11/4/2024, tại trang 04 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 13/12/2018 mang tên ông Trần Hữu H và bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Văn D - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đính chính nội dung chuyển nhượng cho anh Trần Quang Q.

Chị T cho rằng tại thời điểm anh Q được sang tên thửa đất trên thì thửa đất đang có tranh chấp nên không đủ điều kiện để chuyển nhượng theo quy định của pháp.

Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị T và anh M yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị T1 phải trả cho vợ chồng chị T:

- Tiền gốc là 26 tỷ 150 triệu đồng; tiền lãi kể từ tháng 5/2018 đến 08/8/2020 là 05 tỷ 092 triệu đồng; tiền lãi trong thời hạn 52 tháng (từ ngày 08/8/2020 đến ngày 13/12/2024)là 26 tỷ 150 triệu ×1%/tháng×52 tháng = 13 tỷ 598 triệu đồng.Tổng số tiền gốc và lãi chị T1 phải trả cho vợ chồng chị T và anh M là 44 tỷ 840 triệu (Bốn mươi bốn tỷ tám trăm bốn mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, chị T và anh M yêu cầu chị T1 còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền gốc 26 tỷ 150 triệu ×1%/tháng, kể từ ngày 15/12/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Đề nghị Tòa án bổ sung Phòng C, tỉnh Hà Nam và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thời bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:

  • + Đề nghị Toà án xem xét thu giữ toàn bộ thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38, diện tích 196m², tại địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L cùng nhà và các tài sản trên đất để đối trừ khoản tiền nợ mà chị T1 còn nợ vợ chồng chị T.
  • + Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38, diện tích 196m², tại địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L nhà và các tài sảntrên đất giữa anh Trần Quang Q với vợ chồng chị Trần Thị T1 và anh Trần Hữu H vô hiệu.
  • + Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/12/2018 cho ông Trần Hữu H và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38, diện tích 196m², tạiđịa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L và các tài sảntrên đất đã được Văn phòng Đ chi nhánh L2 đính chính tại trang 04, nội dung chuyển nhượng cho anh Trần Quang Q.

Bị đơn chị Trần Thị T1 trình bày:

Chị T1 không đồng ý với một phần yêu cầu khởi kiện của chị T và anh M. Từ tháng 5/2018 đến ngày 08/8/2020, chị đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng chị T và anh M với lãi xuất từ 1.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 3.000

đồng/1.000.000 đồng/ngày để đầu tư kinh doanh. Việc vay tiền của chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không có ai chứng kiến. Việc vay tiền chỉ có chị T1 và vợ chồng chị T, ngoài ra chồng và con chị T1 không liên quan đến việc vay tiền. Quá trình vay, chị đã nhiều lần trả nợ trong đó có cả tiền gốc và tiền lãi rồi lại tiếp tục vay tiền của vợ chồng chị T, tuy nhiên sau này vì dịch bệnh Covid nên công việc làm ăn của chị T1 phá sản, vì vậy không thể tiếp tục trả tiền cho vợ chồng chị T nên bị vợ chồng chị T nhiều lần đòi nợ. Do số tiền vay nhiều lần cộng lại và chị không có khả năng trả nợ, nên ngày 08/8/2020 chị T1 và vợ chồng chị T đã cộng lại tất cả các khoản nợ và chốt sổ chị T1 còn nợ vợ chồng chị T số tiền 26 tỷ 150 triệu đồng (trong đó khoảng 18 tỷ đồng tiền gốc, 08 tỷ đồng tiền lãi). Ngoài ra chị xác định từ khi bắt đầu vay tiền của vợ chồng chị T đến thời điểm tháng 8/2020 chốt sổ nợ, chị đã trả cho chị T hơn 10 tỷ đồng tiền lãi, còn từ tháng 8/2020 đến nay do công việc làm ăn thua lỗ nên chưa trả được tiền gốc, tiền lãi cho vợ chồng chị T.

Đến ngày 08/8/2020 hai bên chốt nợ, chị T1 còn nợ vợ chồng chị T 26 tỷ 150 triệu đồng (trong đó khoảng 18 tỷ đồng tiền gốc, khoảng 08 tỷ đồng tiền lãi). Đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 13/12/2018 mang tên ông Trần Hữu H và bà Trần Thị T1, cùng ngôi nhà trên đất là tài sản hợp pháp của vợ chồng chị T1 và anh H. Do trước đó vợ chồng chị T1 có nợ Ngân hàng T3 (V) số tiền 01 tỷ 600 triệu đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên để vay tiền. Đến đầu năm 2021, vợ chồng chị T đã đặt vấn đề mua lại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất để trừ nợ, nhưng hai bên không thống nhất được về giá nên chị T1 không bán tài sản trên cho vợ chồng chị T.

Đến tháng 3/2021, vợ chồng chị T1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất cho anh Trần Quang Q với giá 02 tỷ 700 triệu đồng. Anh Q trả trước cho vợ chồng chị T1 01 tỷ 600 triệu đồng để trả Ngân hàng, trả nợ cho anh Q 500 triệu đồng vay ngày 16/6/2019. Còn 600 triệu đồng thì hai bên thỏa thuận khi nào làm xong thủ tục sang tên sổ đỏ cho anh Q thì anh Q sẽ trả hết số tiền còn lại. Việc mua bán, chuyển nhượng thửa đất trên giữa vợ chồng chị T1 và anh Q hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp, không vi phạm điều cấm của luật, được Phòng C tỉnh Hà Nam lập hợp đồng công chứng, sau đó anh Q đã được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện L đính chính tại trang 04 về nội dung chuyển nhượng cho anh Q theo đúng quy định của pháp luật. Chị xác định việc bán đất cho anh Q không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ như chị T trình bày, mà để trả nợ các khoản vay vợ chồng chị đã vay của ngân hàng trước đó.

Chị T1 xác nhận chị còn nợ vợ chồng chị T 26 tỷ 150 triệu đồng (cả tiền gốc và tiền lãi), chị T1 sẽ có trách nhiệm trả dần số tiền trên cho vợ chồng chị T. Đối với số tiền lãi kể từ tháng 5/2018 đến 08/8/2020 là 05 tỷ 092 triệu đồng, chị

không đồng ý trả vì hiện nay hoàn cảnh kinh tế gia đình chị đang gặp khó khăn nên không có khả năng trả nợ.

Đối với yêu cầu của chị T đề nghị Tòa án thu giữ toàn bộ thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất để đối trừ khoản tiền nợ, thì chị T1 không đồng ý vì vợ chồng chị đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho anh Trần Quang Q. Đối với các yêu cầu khác của nguyên đơn, chị T1 đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Hữu H trình bày:

Trong thời gian chị T1 vay tiền của vợ chồng chị Trần Thị T và anh Trần Đức M, thì anh thường xuyên sinh sống cùng nhà với chị T1 tại địa phương, tuy nhiên anh không biết việc vay tiền giữa chị T1 với anh M,vì từ trước tới nay anh không nghe chị T1 nói về việc vay tiền. Anh xác định việc vay mượn tiền giữa chị T1 và vợ chồng chị T, anh M anh không được biết và không liên quan gì đến anh, chị T1 vay tiền của vợ chồng chị T thì có trách nhiệm trả tiền cho chị T và anh M.

Đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 13/12/2018 mang tên ông Trần Hữu H và bà Trần Thị T1 là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh.

Khoảng năm 2020, vợ chồng chị T đã nhiều lần yêu cầu chị T1 phải thanh toán khoản vay nhưng do kinh tế khó khăn nên chị T1 không có khả năng trả nợ cho chị T. Vợ chồng anh đã trao đổi với chị T về thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 và căn nhà 03 tầng trên đất nhưng sổ đỏ đang thế chấp tại ngân hàng V cho khoản vay của ngân hàng 1.600.000.000 đồng. Chị T1 và anh đã thỏa thuận vợ chồng chị T mua lại toàn bộ thửa đất và ngôi nhà trên để vợ chồng anh dùng nguồn tiền này trả cho ngân hàng (do đã hết thời hạn hợp đồng), phần tiền còn lại sẽ trả cho vợ chồng chị T. Nhưng vợ chồng chị T không đồng ý nên hai bên không thống nhất được với nhau về việc mua bán thửa đất trên. Ngân hàng V yêu cầu phát mại tài sản, vì vậy vợ chồng anh đã bán toàn bộ đất và tài sản trên đất cho anh Trần Quang Q với giá 2.700.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng.

Đối với yêu cầu của chị T, đề nghị Tòa án thu giữ toàn bộ thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đấtđể đối trừ khoản tiền nợ mà chị T1 còn nợ vợ chồng chị T thì anh H không đồng ý, vì vợ chồng anh đã chuyển nhượng tài sản trên cho anh Q. Đối với các yêu cầu khác của nguyên đơn, anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang Q trình bày:

Do có nhu cầu về nhà đất, nên tháng 3/2021 anh đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng chị T1 và anh H thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38, diện tích 196m², tại địa chỉ thôn A, xã H, huyện L được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cùng ngôi nhà và các tài sản trên đất với giá nhận chuyển nhượng là 02 tỷ 700 triệu đồng. Việc chuyển nhượng giữa các bên đều hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp, hai bên đã lập hợp đồng công chứng tại Phòng C tỉnh Hà Nam đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi anh nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì chị T1 có nói chuyện với anh là trước đó vợ chồng chị T1 đã nhiều lần gọi chị T xuống để bán thửa đất và căn nhà trên đất cho vợ chồng chị T để đối trừ khoản tiền nợ, nhưng do hai bên không thỏa thuận được về giá chuyển nhượng nên vợ chồng chị T1 mới chuyển nhượng cho anh thửa đất này.

Vì thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất trên đang được thế chấp tại ngân hàng V, nên anh Q đã chuyển số tiền 01 tỷ 600 triệu vào ngân hàng V để lấy sổ đỏ ra. Đối với số tiền còn lại 01 tỷ 100 triệu đồng, cụ thể: 500 triệu đồng được anh Q đối trừ với khoản nợ anh H đã vay anh trước đó, 600 triệu đồng được tính vào tiền lãi anh Q phải đóng lãi cho ngân hàng từ năm 2021 đến năm 2024 (sau khi anh Q được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vì năm 2021, chị T và anh M khởi kiện chị T1 tại Tòa án nên các cơ quan có thẩm quyền dừng không làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Q, vì vậy các bên đã thỏa thuận vợ chồng chị T1 phải chịu trách nhiệm trả tiền lãi ngân hàng phát sinh cho anh Q. Hiện anh Q đã được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện L đính chính tại trang 04 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với nội dung đã chuyển nhượng cho anh Trần Quang Q. Sau đó anh Q đã thế chấp thửa đất trên tại ngân hàng L3 chi nhánh H1 để vay 02 tỷ đồng.

Đối với yêu cầu của chị T đề nghị Tòa án sử dụng toàn bộ thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất để đối trừ khoản tiền nợ mà chị T1 còn nợ vợ chồng chị T thì anh không đồng ý. Hiện nay anh đang sử dụng thửa đất và ngôi nhà trên đất để sinh sống và bán hàng. Việc chị T1 có vay nợ của vợ chồng chị T thì chị T1 tự có trách nhiệm trả nợ, anh không liên quan gì đến vụ án. Đối với các yêu cầu khác của nguyên đơn, anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân đã quyết định: Căn cứ Điều 144, 147, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 463, 466, 468 và Điều 469 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T và anh Trần Đức M đối với chị Trần Thị T1, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Trần Thị T1 có trách nhiệm trả cho chị Trần Thị T và anh Trần Đức M số tiền gốc là 26.150.000.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày 08/8/2020 đến

ngày xét xử sơ thẩm 25/3/2025 là 12.060.467.000 đồng. Tổng là 38.210.467.000 (Ba mươi tám tỷ hai trăm mười triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, chị Trần Thị T kháng cáo: Đề nghị huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa giữa anh Trần Quang Q với vợ chồng chị Trần Thị T1 và anh Trần Hữu H vô hiệu và T2 huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/12/2018 cho ông Trần Hữu M1, bà Trần Thị T1 đã được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L2 đích chính tại trang 4 cho anh Trần Quang Q.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo (chị Trần Thị T) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Và thừa nhận thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 của vợ chồng chị Trần Thị T1 không thế chấp bảo đảm cho hợp đồng vay tiền giữa chị Trần Thị T và chị Trần Thị T1; không có tài liệu chứng minh là đồng sở hữu tài sản trên đất, quyền sử dụng đất; giữa chị Trần Thị T và chị Trần Thị T1 không văn bản về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

- Ý kiến của chị Trần Thị T1 và anh Trần Hữu H như sau: Không nhất trí với yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị T. Vì chị T1 không thế chấp thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 đề bảo đảm cho tiền vay, thửa đất này vợ chồng chị T1 thế chấp vay vốn Ngân hàng, vợ chồng chị chuyển nhượng đất cho anh Trần Quang Q để trả nợ Ngân hàng là hoàn toàn đúng pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Trần Thị T trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phiên toà là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.

Về nội dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Trần Thị T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Trần Thị T trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm. Anh Trần Quang Q vắng mặt tại phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần 02 nên Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét, chị Trần Thị T kháng cáo yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 364, quyển số 01-2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng Công chứng số 3 tỉnh C chứng nhận ngày 12/03/2021 vô hiệu; Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản đăng ký biến động tại trang 4 cho anh Trần Quang Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện người ủy quyền cho người kháng cáo thừa nhận thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất không là tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản tiền vay của chị T; không có tài liệu chứng minh vợ chồng chị T là đồng sở hữu tài sản trên đất, quyền sử dụng thửa đất này. Nên chị Trần Thị T không có quyền tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với vợ chồng chị Trần Thị T1, không có quyền yêu cầu hủy hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng chị Trần Thị T1 và anh Trần Quang Q.

Thực tế vợ chồng chị T1 thế chấp thửa đất số 262, tờ bản đồ số 38 cùng nhà cửa và tài sản trên đất vay vôn Ngân hàng T3 (V) là hoàn toàn đúng pháp luật, anh Trần Quang Q thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng, giải chấp quyền sử dụng đất và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng chị Trần Thị T1 là đúng pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của chị Trần Thị T.

Quan hệ vay tài sản chị Trần Thị T và chị Trần Thị T1 là trái pháp luật. Vì tại bút lục 348, 349, 388, 495 chị Trần Thị T thừa nhận lãi suất cho vay là 30%/năm (tức 2,5%/tháng), đây là mức lãi suất cao so với luật định. Do không có kháng cáo với nội dung này nên ngoài phạm vi xét xử của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của Chị Trần Thị T không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

[1]. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của chị Trần Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

[2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), trừ số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại chi cụ Thi hành án dân sự huyện L theo biên lai số 0001931 ngày 14/4/2025 chị T đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

-TAND cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- TAND huyện Lý Nhân;

- VKSND huyện Lý Nhân;

- Chi cục THADS huyện Lý Nhân;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS - PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 15/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay Tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger