|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/DS-PT Ngày: 13 – 6 - 2025 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Đức Hiệp và bà Trần Thị Sâm
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Liên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: bà Phạm Thị Thanh Mơ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: ông Lê Xuân L sinh năm 1953, bà Chu Thị Q sinh năm 1955; địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Xuân L: bà Chu Thị Q sinh năm 1955; địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 30/5/2024).
-
Bị đơn: ông Lê Thanh K sinh năm 1961, bà Lê Thị N sinh năm 1957; địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N: ông Lê Thanh K sinh năm 1961; địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 25/6/2024).
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Thanh K: anh Nguyễn Đắc D sinh năm 1999; địa chỉ: số A T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/5/2025).
-
Người làm chứng: ông Chu Văn M sinh năm 1954; ông Lê Duy N1 sinh năm 1968; ông Chu Hữu P sinh năm 1968; ông Chu Văn D1 sinh năm 1950; anh Quách Trọng Q1 sinh năm 1975; bà Lê Thị H sinh năm 1967; bà Lê Thị H1 sinh năm 1955; ông Lê Văn T; bà Lê Thị T1 sinh năm 1962; bà Lê Thị H2 sinh năm 1971; bà Đinh Thị N2; bà Lê Thị N3; ông Lê Đình T2; đều trú tại địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
-
Người kháng cáo: ông Lê Thanh K là bị đơn.
-
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/5/2024 và trong giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Xuân L, bà Chu Thị Q trình bày:
Năm 2008 vợ chồng ông K, bà N bán cho vợ chồng ông L, bà Q 312m² đất trồng lúa, thuộc thửa đất số 221 tờ bản đồ số 13 xã N lập năm 2009, tại xứ đồng V, lô 1 thuộc đội 8 với giá 20.000 đồng/m² thành tiền 6.240.000 đồng. Ngày 14/3/2008 hai bên đã viết giấy chuyển nhượng đất cấy. Vợ chồng ông L đã giao đủ số tiền mua đất là 6.200.000 đồng cho vợ chồng ông K (vợ chồng ông K bớt cho vợ chồng ông L 40.000 đồng); vợ chồng ông K đã giao cho vợ chồng ông L 312m² đất để sử dụng.
Sau khi nhận đất, vợ chồng ông L đã tiến hành đào ao thả cá, vượt nền đất, trồng chuối, trồng rau trên mảnh đất đó. Đến năm 2016, vợ chồng ông K tự đem vật liệu đến xây chuồng lợn, xây tường rào B40 trên đất mà không được sự đồng ý của vợ chồng ông L. Khi phát hiện sự việc, vợ chồng ông L đã yêu cầu tháo dỡ công trình nhưng vợ chồng ông K không thực hiện và nói giấy tờ trước đây ghi chỉ bán đất cho vợ chồng ông L đến khi Hợp tác xã dồn điền đổi thửa, năm 2014 xã dồn điền đổi thửa nên vợ chồng ông K lấy lại đất. Vợ chồng ông L đã về tìm lại giấy mua bán đất viết tay giữa hai gia đình nhưng không thấy nên không có căn cứ để nhờ cơ quan chức năng giải quyết. Từ năm 2016 đến nay, gia đình phải tập trung lo điều trị bệnh cho ông L nên thường xuyên vắng nhà. Đến năm 2023, gia đình ông L sửa lại nhà và đã tìm thấy tờ “Giấy chuyển nhượng đất cấy” hai gia đình đã ký trước đây. Vợ chồng ông L rất bất ngờ khi thấy trong giấy có ghi “khi nào HTX đổ điền lại ông L có trách nhiệm hoàn trả lại số diện tích trên cho gia đình ông K”. Năm 2008 hai bên thỏa thuận mua bán đất với nhau xong, ông K là người viết “Giấy chuyển nhượng đất cấy”, vợ chồng ông L ký vào giấy nhưng không đọc lại nên không biết ông K viết nội dung gì trong đó. Đến nay, vợ chồng ông L cũng không biết ông K viết “đổ điền” có nghĩa là gì. Ông K bảo “đổ điền” là “dồn điền đổi thửa” và bảo vợ chồng ông L phải trả lại đất là không chấp nhận được. Việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông L và vợ chồng ông K là mua bán đứt với nhau, có nghĩa là vợ chồng ông K không còn quyền gì đối với 312m² đất này.
Tại Đơn khởi kiện ngày 17/5/2024, vợ chồng ông L yêu cầu vợ chồng ông K phải tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại 312m² đất tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 13 xã N lập năm 2009.
Tại bản tự khai bổ sung ngày 14/12/2024 vợ chồng ông L đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng 312m² đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông L và buộc vợ chồng ông K phải tháo dỡ công trình đã xây dựng để trả lại 312m² đất cho vợ chồng ông L.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, vợ chồng ông L đã chi trả và không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện nay, vợ chồng ông L đều đã cao tuổi, đề nghị Tòa án xem xét miễn án phí cho vợ chồng ông bà.
Bị đơn ông Lê Thanh K, bà Lê Thị N trình bày:
Ông K và ông L là anh em cháu cô, cháu cậu và là hàng xóm với nhau. Năm 2003 để tiện cho việc canh tác, vợ chồng ông K có nhận chuyển đổi của anh rể là ông Quách Trọng C diện tích 669m² đất nông nghiệp tại lô A, đội 8, xứ đồng Vườn The. Trong đó, có một phần diện tích đất là 312m² nằm sát phía sau nhà ông L. Do gia đình ông L chăn nuôi, thải trực tiếp chất thải ra ruộng nên gia đình ông K không thể cấy được.
Năm 2008 vợ chồng ông L đã đặt vấn đề với ông K để lại cho vợ chồng ông L sử dụng diện tích 312m² đất nêu trên. Vợ chồng ông K đồng ý cho vợ chồng ông L sử dụng diện tích 312m² đất ruộng, với điều kiện khi nào Nhà nước có chính sách dồn điền đổi thửa thì vợ chồng ông L phải trả lại đất cho vợ chồng ông K. Vợ chồng ông K hiểu biết về pháp luật hạn chế, không hiểu hết nghĩa của từ “chuyển nhượng” là mua đứt bán đoạn mà cứ nghĩ việc chuyển đổi, cho mượn đất, thuê đất cũng gọi chung là chuyển nhượng nên ngày 14/3/2008 ông K đã viết giấy với tiêu đề “Giấy chuyển nhượng đất cấy”; trong đó có ghi chuyển nhượng số ruộng 313 ở xứ đồng V, lô 1 diện tích 312m² cho vợ chồng ông L. Thực chất giấy viết tay ngày 14/3/2008 chỉ thể hiện nội dung vợ chồng ông K cho vợ chồng ông L được phép sử dụng 312m² đất ở lô 1 xứ đồng Vườn The, khi nào “đổ điền” nghĩa là “dồn điền đổi thửa” thì vợ chồng ông L có trách nhiệm hoàn trả lại đất cho gia đình ông K. Vợ chồng ông L nhất trí nội dung thỏa thuận như trên và đã ký vào giấy. Giấy viết tay ngày 14/3/2008 do vợ chồng ông L giữ nên việc vợ chồng ông L cho rằng ông bà không đọc kỹ, không biết nội dung này là không đúng.
Năm 2014 khi Nhà nước có chính sách dồn điền đổi thửa, vợ chồng ông L đã tự nguyện trả lại diện tích 312m² đất cho vợ chồng ông K. Do là anh em họ hàng nên khi vợ chồng ông L trả lại đất, vợ chồng ông K không lập giấy tờ, văn bản giao trả đất và cũng không yêu cầu vợ chồng ông L trả lại “Giấy chuyển nhượng đất cấy”. Sau khi lấy lại đất, năm 2016 vợ chồng ông K đã xây tường bao ở phía Bắc, làm chuồng lợn, trồng hoa màu trên đất cho đến nay. Do gia đình ông L không còn sử dụng thửa đất nữa nên đã vít kín cửa hậu phía sau thông ra thửa đất. Hai gia đình không xảy ra mâu thuẫn, xung đột gì cho đến vài năm gần đây khi giá đất lên cao, gia đình ông L muốn mua lại mảnh đất ruộng này nhưng ông K không đồng ý nên gia đình ông L đã tìm lại “Giấy chuyển nhượng đất cấy” năm 2008 để tố cáo lên xã việc gia đình ông lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi xã giải quyết không có sự việc đó thì gia đình ông L lại lấy giấy này làm bằng chứng khởi kiện ra Tòa. Vợ chồng ông K khẳng định bản chất giấy viết tay ngày 14/3/2008 không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ là văn bản vợ chồng ông chuyển đổi cho vợ chồng ông L sử dụng đất ruộng để canh tác có thời hạn. Nếu thực chất có việc chuyển nhượng như ông L nói thì tại sao trong ngần ấy năm ông L không đi làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên hay lên xã chứng thực việc mua bán của hai gia đình; nếu thực sự là chuyển nhượng thì tại sao ông L không đóng các khoản thuế với Nhà nước, trong khi gia đình ông vẫn đóng toàn bộ các khoản thuế với Nhà nước. Ông Chu Văn D1 - Đội trưởng đội sản xuất số H3, thuộc Hợp tác xã (HTX) N đã xác nhận từ năm 2003 gia đình ông K nộp đầy đủ các khoản thu của HTX đối với diện tích đất này và đất đứng tên hộ gia đình ông là K, bà N. Diện tích đất 312m² nêu trên được giao cho hộ gia đình ông, do vậy nếu cho đây là hợp đồng chuyển nhượng thì cả về hình thức và nội dung đều không hợp pháp. Ông K khẳng định đây không phải là hợp đồng chuyển nhượng đất nên không có chuyện mua bán đất ở đây.
Ông K xác định khoảng vài năm nay do có tranh chấp nên gia đình ông K không chăn nuôi, trồng trọt gì trên đất nữa. Tài sản trên đất tranh chấp hiện nay của gia đình ông K gồm có: chuồng lợn, tường bao gạch bên trên là lưới B40, còn gia đình ông L đã đào ao, kè ao, vượt đất nền từ đất đào ao, trồng chuối. Ông K đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện khi xem xét “Giấy chuyển nhượng đất cấy” để đình chỉ giải quyết vụ án. Vợ chồng ông K xin miễn án phí do đều là người cao tuổi và thuộc hộ cận nghèo.
Lời khai người làm chứng:
- - Ông Chu Văn M: ông là hàng xóm cách nhà ông K, bà N khoảng 150m. Ông M biết diện tích đang tranh chấp giáp phía sau nhà ông L cho đến phía sau nhà ông Á. Ông K bảo là ruộng 313 của nhà ông K và bảo ông M cứ ra chỗ vũng trên đất mò cá. Tài sản trên đất ông M không biết của ai, không biết ai là người đang sử dụng phần đất này.
- - Ông Lê Duy N1: ông là hàng xóm sát nhà ông K, bà N. Ông biết diện tích đang tranh chấp giáp phía sau nhà ông L cho đến giáp phía sau nhà ông Á, ông K sử dụng từ năm 2014 đến nay, trên đất ông K có xây 01 chuồng chăn nuôi nhỏ thả gà, lợn, thỉnh thoảng ông K có tát ao.
- - Ông Chu Hữu P: ông vừa là hàng xóm vừa là anh em đôi đằng với nhà ông L và ông K. Năm 2016 ông K thuê ông xây tường rào ở phía Bắc mảnh đất, giáp ruộng cấy chiều dài từ phía nhà ông K đến nhà ông Á, xây bằng gạch bị cao khoảng 40cm, dựng lưới B40 bên trên.
- - Ông Chu Văn D1 (đội trưởng đội sản xuất số 08 thuộc HTX Nông nghiệp xã N từ năm 1985 đến nay): diện tích đất 313 đang tranh chấp giữa gia đình ông L và ông K có vị trí ở lô A, xứ đồng Vườn The. Nguồn gốc đất là 1 suất ruộng ưu tiên (1 khẩu thương binh) của ông Quách Trọng C. Năm 2003 ông C đã chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp này cho ông K (có đính chính tên ông K bên cạnh tên ông C tại sổ chia ruộng 2003). Diện tích đất nông nghiệp ông C chuyển đổi cho gia đình ông K là thửa 221, tờ bản đồ số 13 xã N. Do đó hộ gia đình ông K mang tên chủ sử dụng đất từ năm 2003 đến nay trên sổ sách theo dõi ruộng đất ở địa phương. Vợ chồng ông K đứng ra nộp các khâu dịch vụ của hợp tác xã từ năm 2003 đến nay. Vị trí 312m² đất đang tranh chấp giữa gia đình ông L và ông K nằm trong diện tích 669m² thửa 221, tờ bản đồ số 13 xã N lập năm 2009. Việc hai gia đình có mua bán, chuyển nhượng hay tặng cho như thế nào thì ông không biết chỉ đến khi nhà ông L nộp đơn lên xã đề nghị giải quyết tranh chấp thì ông mới biết hai gia đình có thỏa thuận với nhau đối với diện tích 312m² theo “Giấy chuyển nhượng đất cấy” ngày 14/3/2008. Thực tế sử dụng đất của hai gia đình thì ông không biết. Năm 2014 không thực hiện dồn điền đổi thửa đối với thửa 221, tờ bản đồ số 13. Nội dung thỏa thuận trong giấy chuyển nhượng đất cấy do hai bên tự thống nhất ông không biết từ “đổ điền” có nghĩa như thế nào. Hiện tại thửa 221 tờ bản đồ số 13 thể hiện trên sổ chia ruộng năm 2014 (do ông giữ, ghi chép để theo dõi) mang tên ông K tại ô 1, vườn T (01 khẩu).
- - Anh Quách Trọng Q1 (con ông Quách Trọng C): bố mẹ anh hiện đã chết. Trước đây bố anh là thương binh nên gia đình được chia 01 suất ruộng ưu tiên 669m² ở ô 1, vườn The hiện là thửa 221 tờ bản đồ 13 xã N. Năm 2003 bố anh có chuyển đổi 669m² đất ruộng này cho vợ chồng ông K. Sau khi chuyển đổi, diện tích 669m² đất 313 tại xứ đồng Vườn The thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông K và không có thắc mắc gì.
- - Bà Lê Thị H: bà không biết nội dung gì về việc mua bán, chuyển nhượng đất 313 giữa ông L và ông K. Trước đây, gia đình bà cũng có đất ruộng 313 ở xứ đồng Tống Cố . Năm 2008 gia đình bà và nhiều gia đình khác đã bán đất ruộng 313 cùng với gia đình ông L. Giá bán ruộng năm 2008 là 6.400.000 đồng/1 sào cộng với tiền hỗ trợ học nghề chuyển đổi nghề nghiệp tổng cộng là 6.700.000 đồng. Nhà nào mất nhiều ruộng thì mới được tiền hỗ trợ chuyển đổi việc làm. Bà không nhớ tiền hỗ trợ chuyển đổi việc làm là bao nhiêu nhưng chỉ nhớ tính bình quân mỗi sào được thêm vài trăm nghìn đồng. Thời điểm đó gia đình bà bán đất cho doanh nghiệp tại địa phương để làm khách sạn. Vị trí ruộng nhà bà đến chỗ ruộng đang tranh chấp của ông L, ông K khoảng 70m - 80m, cùng một dải đất với thửa đất.
- - Bà Lê Thị H1: ở cùng ở đội sản xuất nông nghiệp nên có biết ông L và ông K. Bà không biết nội dung gì về việc mua bán, chuyển nhượng đất 313 giữa ông L và ông K. Trước đây, gia đình bà cũng có đất ruộng 313 ở xứ đồng Tống Cố, xã N. Năm 2008 gia đình bà và nhiều gia đình khác đã bán đất ruộng 313 cùng với gia đình ông L cho doanh nghiệp ở địa phương như doanh nghiệp bà T3, doanh nghiệp M2, T. Giá bán ruộng năm 2008 khoảng 6.400.000 đồng - 6.500.000 đồng/sào. Nhà bà bán 13 thước ở xứ đồng Tống Cố cách vị trí đang tranh chấp khoảng 100m, tính ra là 18.000đồng/m². Thời điểm đó gia đình bà cũng như nhiều gia đình khác bán đứt cho doanh nghiệp và họ vẫn sử dụng cho đến nay. Về từ “đổ điền” trong giấy chuyển nhượng đất cấy trong hồ sơ vụ án, bà không biết nghĩa như thế nào.
- - Ông Lê Văn T: ông không có quan hệ thân thích với nguyên đơn, bị đơn. Ông là người cùng họ Lê Văn với ông L. Ông cũng anh em đằng ngoại với nhà ông K. Ông không có mâu thuẫn gì với hai gia đình. Ông không biết nội dung gì về việc mua bán, chuyển nhượng, cho thuê diện tích đất 313 hiện đang tranh chấp giữa ông L và ông K. Cách đây 15-16 năm, ông L có thuê ông đào ao ở diện tích đất 313 ở phía sau nhà ông L. Khi đào ao vượt đất đội thợ của ông có kè bờ ao bằng cọc tre và tấm liếp để giữ đất. Sau này ông L, bà Q sử dụng như thế nào thì ông không biết. Tại địa phương ông không nghe từ “đổ điền” bao giờ và không biết từ “đổ điền” nghĩa là gì.
- - Bà Lê Thị T1: bà là em dâu bà Q, ở ngay cạnh nhà bà Q, bà không có mâu thuẫn hay thù oán gì với nhà ông K. Diện tích đất 313 đang tranh chấp giữa gia đình ông L và gia đình ông K nằm ngay sau nhà bà và nằm trong mảnh ruộng nhà ông K trước đây. Trước đây ông K đã đổi ruộng cho nhà ông C để lấy mảnh ruộng này từ sau khi dồn điền đổi thửa vào năm 2003. Năm 2008 bà thấy nhà ông K và nhà ông L có nói chuyện với bà và những người xung quanh về việc ông K đã bán một nửa mảnh ruộng về phía nhà bà cho ông L. Còn việc hai bên thỏa thuận ký kết như thế nào thì bà không biết. Ngay trong năm 2008 ông L đã thuê người đào ao, vượt nền, trồng chuối, thả cá, trồng rau trên đất mua của nhà ông K nhiều năm. Đến năm 2016 bà T4 thấy gia đình ông K xây tường bao trên đất đã bán cho ông L, trong khi gia đình ông L không có ai ở nhà vì còn đang lo chạy chữa cho ông L đang bị đột quỵ. Thấy vậy bà T4 đã ra hỏi “tại sao làm trên đất nhà ông L” thì bà N nói “đất nhà tao thì tao làm”; bà T4 có to tiếng với bà N, ông K thì bị chửi và bảo bà không biết gì. Bà bức xúc nên đã thông báo cho nhà ông L biết. Khi nhà ông L về thì nhà ông K đã xây xong tường bao, chuồng lợn như hiện nay, đường ống dẫn nước thải của ông L đã bị nhà ông K phá không còn dấu vết. Bà có thấy bà Q sang nhà ông K nói chuyện sau đó bà Q về nói với bà “Giờ giấy tờ mua bán mất rồi, tôi không biết phải làm thế nào mà ông K thì cứ nói dồn điền thì tôi lấy lại”. Ông L thì ốm từ đó đến nay không tham gia được việc gì còn con cái ông L đã đi xây dựng gia đình, không ở cùng ông L. Năm 2023 ông bà Q sửa lại nhà dọn dẹp đồ đạc đã tìm thấy giấy mua bán ruộng. Bà Q cầm giấy sang nói với ông K nhưng ông không nghe và bảo dồn điền rồi thì ông lấy lại. Bà Q có mang giấy này cho bà xem thì bà thấy có ghi chữ đổ điền chứ không phải dồn điền, đổi thửa. Bản thân bà cũng không hiểu đổ điền là gì, bà hỏi bà Q thì bà Q cũng không biết, giấy do ông K viết nên cứ ký thôi. Diện tích đang tranh chấp không thuộc diện dồn điền, đổi thửa năm 2014. Mảnh đất đang tranh chấp phía sau nhà bà nên ông K làm gì bà đều biết. Ông K chỉ xây chuồng lợn, tường bao phía Bắc khoảng 4-5 hàng gạch, dựng lưới B40 ngoài ra ông K không trồng cây, đổ đất trên diện tích đất tranh chấp. Sau khi ông K xây chuồng lợn có thả lợn ra phần đất tranh chấp nên nhà ông L cũng không trồng cấy được nữa. Ao nhà ông L thả cá cũng không được thu hoạch vì ông L, bà Q thường xuyên phải đi viện không có nhà, vợ con nhà ông K bơm tát ao bắt cá mà không được sự đồng ý của ông L. Có hôm vợ chồng ông K mang cá tát ao sang cho bà Q nhưng bà Q bực mình không nhận. Do nhà ông L, ông K vẫn xích mích nên sau ông K cũng không nuôi lợn hoặc làm gì trên đất khoảng 2-3 năm nay. Khi sửa nhà ông L, bà Q cũng vít luôn cửa ra lối diện tích đang tranh chấp vì ông L, bà Q thường xuyên đi viện không có nhà cần xây lại cho chắc chắn.
- - Bà Lê Thị H2: tại “Bản trình bày” đề ngày 15/12/2024 bà H2 trình bày: ông K có cho bà xem giấy chuyển nhượng đất cấy ngày 14/3/2008 giữa ông L và ông K và hỏi bà có biết từ “đổ điền có nghĩa là gì không” và nhờ bà làm chứng với tòa. Theo bà thì người dân địa phương vẫn sử dụng từ “đổ điền” khi nói về dồn điền đổi thửa. Khi nói “đổ điền” bà hiểu đó là “dồn điền đổi thửa”.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/12/2024 bà H2 trình bày: bản trình bày mang tên bà do ông K nộp cho Tòa án là do bà viết. Bà xác định một số nội dung trình bày trong bản trình bày ngày 15/12/2024 chưa chính xác, xin trình bày lại như sau: khi ông K cho bà xem giấy chuyển nhượng đất cấy bà thấy có từ “đổ điền”. Bà nghĩ đấy là từ “đổi điền” và do viết thiếu một chữ “i” nên thành “đổ điền”. Từ “đổi điền” bà thấy giống với nghĩa “dồn điền đổi thửa” và bà nghĩ từ “đổi điền” là từ viết tắt của “dồn điền đổi thửa”, khi nói về “dồn điền đổi thửa” thì bà hay nói ngắn gọn là “đổi điền”. Thực tế từ “đổ điền” có nghĩa là gì thì bà không biết.
- - Bà Đinh Thị N2: tại “Bản trình bày” đề ngày 15/12/2024 bà N2 trình bày: ông K có cho bà xem giấy chuyển nhượng đất cấy ngày 14/3/2008 giữa ông L và ông K và hỏi bà có biết từ “đổ điền” có nghĩa là gì không và nhờ bà làm chứng với tòa. Theo bà thì người dân địa phương vẫn sử dụng từ “đổ điền” khi nói về dồn điền đổi thửa. Khi nói “đổ điền” thì bà hiểu đó là “dồn điền đổi thửa".
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/12/2024 bà Đinh Thị N2 trình bày: bản trình bày mang tên bà do ông K nộp cho tòa án là do bà viết. Bà xác định một số nội dung trình bày trong bản trình bày ngày 15/12/2024 chưa chính xác, xin trình bày lại như sau: khi ông K đưa cho bà xem Giấy chuyển nhượng đất cấy và hỏi bà có hiểu từ “đổ điền” có nghĩa là gì không. Bà đọc và không hiểu từ “đổ điền” là gì. Bà tự nghĩ “đổ điền” là “dồn điền đổi thửa” vì từ trước đến nay bà chỉ nghe “dồn điền đổi thửa” chứ không nghe ai nói “đổ điền”.
- - Bà Lê Thị N3: bà là người cùng làng với hai bên đương sự. Năm 2008 gia đình bà có bán 1 sào 3 thước ruộng ở xứ đồng Tống Cố (cách nhà ông L hiện nay khoảng 500m) được hơn 07 triệu đồng (chưa đến 07 triệu đồng/sào), không nghe thấy ai nói “đổ điền” bao giờ, không hiểu “đổ điền” có nghĩa là gì.
- - Ông Lê Đình T2: ông là Phó chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp xã N đến nay đã 20 năm. Vào năm 2008 gia đình ông có bán 10 thước ruộng với giá khoảng 6 đến 7 triệu đồng/sào. Ông không nghe thấy ai nói “đổ điền” bao giờ, không hiểu “đổ điền” có nghĩa là gì.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá:
diện tích đất tranh chấp có vị trí tại thửa số 221 tờ bản đồ 13, bản đồ địa chính xã N năm 2009, tại thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình.
- + Đất: diện tích đo đạc là 312m². Vị trí: phía Đông tiếp giáp đất ông K; phía Tây tiếp giáp đường mương nội đồng; phía Nam tiếp giáp với đất ông A, Á, M1, N4, L; phía Bắc tiếp giáp với đất nông nghiệp.
- Công ty thẩm định giá TMC đề xuất đơn giá tương ứng với mục đích sử dụng như sau: giá trồng cây hàng năm 75.000 đồng/m²; giá đất trồng lúa 70.000đồng/m²; giá đất trồng cây lâu năm là 105.000 đồng/m²; đơn giá đất ao là 100.000 đồng/m2.
- + Tài sản gắn liền với đất tranh chấp do vợ chồng ông K xây dựng gồm: nhà chăn nuôi có lợp mái proximang diện tích 14,6m² trị giá 7.211.719đồng; sân bê tông 0,51m³ trị giá 205.840 đồng; tường bao 25,44m trị giá 3.497.829 đồng; bờ kè trị giá 403.000 đồng. Tài sản do ông Lê Xuân L bồi trúc, san lấp 70m³ trị giá 9.746.870 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đất tranh chấp là 21.065.258 đồng.
Ý kiến của UBND xã N:
theo Quyết định số 313/QĐ-UB ngày 06/4/1993 của UBND tỉnh N, diện tích đất đang tranh chấp trước đây thuộc diện tích đất nông nghiệp được giao cho hộ ông Quách Trọng C là 648m² tại thửa 18, tờ bản đồ 04 với thời hạn 20 năm (được gia hạn sử dụng 50 năm đến ngày 15/10/2063 theo Luật đất đai năm 2013). Năm 1999 thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), chủ sử dụng là Lê Thị T5 (vợ ông C). GCNQSDĐ này đã bị thu hồi đồng loạt khi thực hiện đo vẽ, lập hồ sơ địa chính mới. Năm 2003 thực hiện kế hoạch “dồn điền, đổi thửa”, hộ ông C vẫn là chủ sử dụng đối với diện tích 669m² tại thửa số 17, tờ bản đồ 04. Năm 2009 thực hiện việc đo vẽ, lập lại bản đồ địa chính thì diện tích 669m² đất nông nghiệp cấp cho hộ ông C thể hiện thành 2 thửa là thửa 221 diện tích 365,6m² và thửa 220 diện tích 287,8m², tờ bản đồ số 13 đều mang tên ông C, loại đất lúa. Năm 2014 thực hiện kế hoạch “dồn điền đổi thửa, chỉnh trang lại đồng ruộng”, thửa đất số 220, 221 tờ bản đồ số 13 giữ nguyên diện tích, không dồn điền đổi thửa, không có sự thay đổi về chủ sử dụng đất. Khi phát sinh tranh chấp, qua quá trình làm việc ông K cung cấp hiện trạng sử dụng của hộ gia đình tại thửa đất là do gia đình ông K tự chuyển đổi vị trí với hộ ông C để gia đình ông K sử dụng thửa đất hiện đang tranh chấp, không thông qua UBND xã, chỉ thông báo với đội trưởng đội sản xuất số 8 để theo dõi và thu các khoản thu nộp đối với tập thể. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa vợ chồng ông L và vợ chồng ông K theo “Giấy chuyển nhượng đất cấy” ngày 14/3/2008, UBND xã, Hợp tác xã nông nghiệp và đội sản xuất số 8 đều không biết, cho đến khi vợ chồng ông L có đơn đề nghị UBND xã giải quyết. Do vậy trên hồ sơ đất đai, diện tích đất ruộng nêu trên vẫn mang tên ông C. Việc sổ chia ruộng do ông Chu Văn D1 (đội trưởng đội sản xuất số 8 thuộc Hợp tác xã N) giữ có ghi tên ông K bên cạnh tên ông C là sổ theo dõi riêng của ông D1, do ông D1 ghi để tiện theo dõi đối với người sử dụng đất và thu các khoản thu nộp đối với tập thể hợp tác xã. Thời điểm năm 2008, giá đất nông nghiệp tại xã N theo Quyết định số 05/2007/QĐ-UBND ngày 25/12/2007 của UBND tỉnh N là 24.000 đồng/m². Tại xã N từ sau khi dồn điền đổi thửa vào năm 2003 đến nay, đại đa số đất nông nghiệp chưa được cấp GCNQSDĐ do việc cấp GCNQSDĐ đối với đất nông nghiệp đặc biệt khi thực hiện Luật đất đai 2013, đòi hỏi phải tiến hành đo vẽ đến từng thửa đất nên chưa bố trí được nguồn ngân sách để thực hiện. Đối với những giao dịch về việc chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp mà đất đó chưa được cấp GCNQSDĐ thì chính quyền địa phương không thể chứng thực hoặc làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo yêu cầu của người dân. Trên thực tế, nhiều giao dịch chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương người dân chỉ viết giấy mua bán với nhau và UBND xã cũng không biết được. Thửa đất số 221 tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã N năm 2009 sau khi thu hồi GCNQSDĐ cấp cho bà Lê Thị T5, đến nay chưa được cấp GCNQSDĐ do tình hình chung của địa phương, hiện được xác định là đất lúa, không vi phạm quy hoạch của địa phương, đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ trong trường hợp không có tranh chấp. Trong các quy định của pháp luật không có thuật ngữ “đổ điền” và đây cũng không phải là từ địa phương nên không xác định được nghĩa của từ “đổ điền” trong Giấy chuyển nhượng đất cấy giữa vợ chồng ông L và vợ chồng ông K.
Tài liệu có liên quan đến nội dung tranh chấp:
- - Sổ mục kê thống kê đất đai lập năm 1997: thửa 18, Vườn The diện tích 16.668m², trong đó có bà Lê Thị T5 (vợ ông C) sử dụng 648m² đất 2 lúa.
- - Sổ mục kê năm 2006: thửa 221 tờ bản đồ số 13, diện tích 326,1m² đứng tên ông C.
- - Tờ bản đồ số 13 lập năm 2009: thửa 221 diện tích 365,6m² đứng tên ông C.
- - Bản pho to Giấy chuyển đổi đất ngày 11/12/2003 được ký kết giữa vợ chồng anh Quách Trọng Q1, chị Chu Thị N5 (là con trai, con dâu ông C) và vợ chồng ông Lê Thanh K, bà Lê Thị N: gia đình ông K có 537m² đất ở xứ đồng Đường B và 132m² đất ở Ô 3 Cửa Chùa đổi cho gia đình ông Quách Trọng C để lấy 669m² đất tại Ô 1 Vườn The của gia đình ông C.
- - Giấy chuyển nhượng đất cấy ngày 14/3/2008 có nội dung: vợ chồng ông K, bà N chuyển nhượng cho vợ chồng ông L, bà Q 312m² đất trồng lúa tại lô 1 xứ đồng Vườn The thuộc đội H3 với giá 6.240.000 đồng. Hai bên đã thỏa thuận và nhất trí khi nào HTX đổ điền lại ông L có trách nhiệm hoàn trả lại số diện tích trên cho gia đình ông K.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 69 của Luật đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 126 của Luật đất đai năm 2013; khoản 6 Điều 406, khoản 1, 4, 6, 8 Điều 409 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 6 Điều 402, khoản 1, 4, 6 Điều 404, khoản 2 Điều 129, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: xác định diện tích 312m² đất tại thửa 221, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã N lập năm 2009, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông L, bà Q. Buộc vợ chồng ông K, bà N phải trả lại 312 m² đất này cho vợ chồng ông L, bà Q.
-
Vợ chồng ông L, bà Q được sở hữu các tài sản của vợ chồng ông K, bà N đã xây dựng trên 312 m² đất (gồm nhà chăn nuôi, sân bê tông, tường bao, bờ kè) có tổng giá trị làm tròn là 11.318.400 (mười một triệu ba trăm mười tám nghìn bốn trăm) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của BLDS.
(312 m² đất nêu trên có vị trí, kích thước thể hiện cụ thể tại Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án)
-
Về án phí: miễn án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng ông K, bà N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 05/2024/QĐ-SCBSBA ngày 29/12/2024, TAND huyện Hoa Lư quyết định sửa chữa bổ sung mục 2 trong phần quyết định của bản: “2. Vợ chồng ông L, bà Q được sở hữu các tài sản của vợ chồng ông K, bà N đã xây dựng trên 312m² đất (gồm nhà chăn nuôi, sân bê tông, tường bao, bờ kè) và phải thanh toán cho vợ chồng ông K, bà N giá trị các tài sản này có tổng giá trị làm tròn là 11.318.400 đồng”.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025, ông Lê Thanh K kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sự thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư. Lý do: phán quyết của Tòa án chưa công tâm, không khách quan, không phù hợp với hồ sơ vụ án gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông K. Yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/01/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư quyết định:
- Kháng nghị toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư theo thủ tục phúc thẩm.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Lý do:
- + Vi phạm về tố tụng: thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, bỏ lọt người tham gia tố tụng, xác định sai tư cách người tham gia tố tụng.
- Diện tích 312m² đất tranh chấp giữa vợ chồng ông L và vợ chồng ông K thuộc thửa 221 tờ bản đồ 13 mang tên ông Quách Trọng C. UBND xã N xác định việc mua bán chuyển nhượng giữa ông C với vợ chồng K, giữa vợ chồng ông K với vợ chồng ông L do các bên tự thỏa thuận không thông qua UBND xã, không làm thủ tục theo quy định pháp luật nên hồ sơ sổ sách về đất đai lưu trữ tại các cơ quan có thẩm quyền, thửa đất đang tranh chấp chủ sử dụng đất vẫn là ông C.
- Ông C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ông C đã chết nên cần xác định những người thừa kế của ông C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Việc Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư không thu thập tài liệu xác định những người thừa kế của ông C gồm những ai để đưa vào tham gia tố tụng là thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, bỏ lọt người tham gia tố tụng. Tòa án xác định ông Quách Trọng Q1 con trai ông C là người làm chứng là sai tư cách tham gia tố tụng.
- + Vi phạm về nội dung: diện tích 312m² đất tại thửa 221 tờ bản đồ số 13 đến nay hiện vẫn mang tên ông C. Tại thời điểm ký kết hợp đồng ngày 14/3/2008 vợ chồng ông K, bà N chưa có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đối với 312m² đất chuyển nhượng nên hợp đồng chuyển nhượng đã vi phạm điều cấm của luật.
- + Về hình thức: giấy chuyển nhượng ngày 14/3/2008 được viết tay có chữ ký các bên nhưng không có công chứng, chứng thực nên vi phạm quy định pháp luật về mặt hình thức.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn có một số thiếu sót, cụ thể:
- + Nội dung phần nhận định và quyết định trong bản án chưa thống nhất, phần nhận định buộc vợ chồng ông L phải thanh toán cho vợ chồng ông K giá trị tài sản trên đất do vợ chồng ông K xây dựng nhưng tại phần quyết định không có nội dung này.
- + Tại phiên tòa bị đơn và đại diện Viện kiểm sát đề nghị đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện tuy nhiên phần nhận định của Bản án không xem xét, đánh giá đề nghị của bị đơn và Viện kiểm sát.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình nhận được Đơn trình bày ý kiến của anh Quách Trọng Q1 (người làm chứng) với nội dung: anh Q1 là con đẻ của ông Quách Trọng C và bà Lê Thị T5. Ông C chết năm 2009, bà T5 chết năm 1997. Ông C và bà T5 có 05 người con là anh Q1, chị Quách Thị L1, chị Quách Thị L2, anh Quách Văn C1 (đã chết, có vợ là Trần Thị Đ và con là Quách Thành L3) và chị Quách Thị N6. Năm 2003 ông C, bà T5 có chuyển đổi diện tích 669m² đất nông nghiệp tại lô A, đội 8, xứ Vườn The cho gia đình ông K. Việc đổi đất giữa ông C, bà T5 và ông K chỉ là để tiện canh tác, không có giấy tờ gì và không đăng ký với chính quyền địa phương. Gia đình ông K chưa được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích chuyển đổi nêu trên. Sau khi ông C, bà T5 chết, anh Q1 và anh chị em trong gia đình chưa bao giờ ký giấy tờ chuyển nhượng thửa đất trên cho gia đình ông K. Ông K, bà N không có quyền tự ý bán đất cho người khác. Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư công nhận giấy chuyển nhượng đất cấy năm 2008 giữa ông K, bà N với ông L, bà Q và xác định diện tích 312m² tại thửa số 221, tờ bản đồ số 13 thuộc quyền sở hữu của ông L, bà Q là trái pháp luật, không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của anh chị em trong gia đình anh Q1. Anh Q1 yêu cầu Tòa án giải quyết trả lại toàn bộ thửa đất đang tranh chấp cho anh Q1 và anh em, con cháu khác trong gia đình. Đối với thửa đất của ông K, bà N đã đổi, anh em anh Q1 sẽ trả lại cho ông K, bà N. Đề nghị Tòa án xem xét lại tư cách tham gia tố tụng trong vụ án của anh em anh Q1, để anh em anh có đầy đủ tư cách bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Tại phiên tòa phúc thẩm: bị đơn ông Lê Thanh K giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, nhất trí với kháng nghị và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/01/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư và nhận xét về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thanh K và Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân thành phố H; hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Ông Lê Thanh K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Ông Lê Thanh K đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của người kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư ra quyết định kháng nghị đúng thẩm quyền và trong hạn luật định. Do đó, vụ án được xét xử lại theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn ông Lê Xuân L, bà Chu Thị Q vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án:
Quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất (ai là người có quyền sử dụng 312m² đất tại thửa 221 tờ bản đồ số 13).
Vợ chồng ông L và vợ chồng ông K tranh chấp quyền sử dụng 312m² đất tại thửa đất số 221 tờ bản đồ số 13 nhưng không bên nào có tên trong hồ sơ địa chính của thửa đất. Thửa đất tranh chấp từ trước đến nay đều đứng tên hộ gia đình ông Quách Trọng C, bà Lê Thị T5. Diện tích đất nông nghiệp đứng tên ông C, bà T5 được chia cho hộ gia đình chứ không phải chia cho cá nhân ông C, bà T5.
Do đó, việc giải quyết xác định ai là người có quyền sử dụng thửa đất số 221 có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của ông C, bà T5 và các thành viên được chia đất trong hộ gia đình ông C. Khi giải quyết vụ án, vợ chồng ông C, bà T5 đều đã chết nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ xác định những người thừa kế của ông C, bà T5 và những người trong hộ gia đình ông C được chia đất gồm có những ai để đưa họ vào tham gia tố tụng là thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ dẫn đến bỏ lọt người tham gia tố tụng. Trong khi tài liệu do ông K, anh Q1 cung cấp thể hiện ông C và bà T5 có 05 người con là anh Quách Trọng Q1, chị Quách Thị L1, chị Quách Thị L2, chị Quách Thị N6 và anh Quách Văn C1 (đã chết, có vợ là Trần Thị Đ và con là Quách Thành L3).
Việc Tòa án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, bỏ lọt người tham gia tố tụng như đã nêu trên cấp phúc thẩm không khắc phục được.
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thanh K và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo là ông K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 1318/NQ-UBTVQH15 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2023 – 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
-
Về án phí phúc thẩm: ông Lê Thanh K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (13/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tử Lượng |
Bản án số 15/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất.
