Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Diện và ông Nguyễn Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-TCDS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-TCDS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V

    Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

    Người đại diện: ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị;

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý

    Người được uỷ quyền lại tham gia tố tụng: ông Đào Tùng L – Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.

    Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty Cổ phần M1

    Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện: ông Hoàng Anh T – Tổng Giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Huy M – Giám đốc Trung tâm xử lý nợ.

    Người được uỷ quyền lại tham gia tố tụng: ông Phạm Văn H – Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Trần Đình T1, sinh năm 1987

    Địa chỉ: thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1985

    Địa chỉ: thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

    Nơi đăng ký tạm trú: đường số N, Khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên toà, người đại diện nguyên đơn, người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đều thống nhất trình bày:

Ông Trần Đình T1 có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (sau đây viết tắt là V1) theo các hợp đồng cụ thể như sau:

- Theo hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022, Ông Trần Đình T1 vay của V1 số tiền 505.000.000 đồng; thời hạn vay 96 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; lãi suất cho vay là 9%/năm cố định trong thời hạn 12 tháng từ khi giải ngân; sau khoảng thời gian đó, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (là ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm); mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,6%/năm; mục đích sử dụng vốn vay là thanh toán tiền mua xe ô tô; trả nợ gốc theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2022, số tiền nợ gốc mà bên vay phải trả mỗi kỳ là 5.261.000 đồng, kỳ cuối cùng trả dứt nợ vay; các kỳ trả nợ lãi: bên vay phải trả tiền lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/02/2022. Ngày 27/01/2022, ông Trần Đình T1 đã nhận đủ số tiền vay 505.000.000 đồng, giải ngân theo hình thức là V1 chuyển tiền vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty Cổ phần V2 (số tài khoản: 14557880001 tại Ngân hàng TMCP S).

- Theo hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022, Ông Trần Đình T1 vay của V1 số tiền 42.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày Ngân hàng giải ngân vốn vay đến hết ngày 15/11/2025; lãi suất cho vay là 20,5%/năm cố định đến ngày 01/4/2023; sau khoảng thời gian đó, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm; mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn tương ứng với thười hạn cho vay nêu trên cộng biên độ 12, mức lãi suất tham chiếu được xác định theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh; mục đích sử dụng vốn vay là phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay; trả nợ gốc theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/12/2022, tổng cộng là 36 kỳ; các kỳ trả nợ lãi: bên vay phải trả tiền lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/12/2022, tổng cộng là 36 kỳ. Ngày 28/11/2022, ông Trần Đình T1 đã nhận đủ số tiền vay 42.000.000 đồng, giải ngân theo hình thức là V1 chuyển tiền vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty B mở tại V1 và chuyển vào tài khoản thanh toán của ông T1 mở tại V1 số 10934977985.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với các hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 đã thế chấp tài sản là xe ô tô MITSHUBISHI XPANDER AT, số khung: MK2XRNC1WLN019446, số máy: 4A91KAC4544, biển kiểm soát 73A – 239.46, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73 011201, ngày 17/01/2022 mang tên Trần Đình T1, theo Hợp đồng thế chấp số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 được ký kết giữa ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 với V1.

Quá trình thực hiện các hợp đồng, ông Trần Đình T1 đã không thực hiện đúng cam kết trong các Hợp đồng tín dụng nên các khoản vay của ông T1 đã được chuyển thành nợ quá hạn, cụ thể khoản vay theo hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 chuyển quá hạn vào ngày 15/6/2023, khoản vay theo hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 chuyển nợ quá hạn vào ngày 15/4/2023. Sau khi các khoản nợ quá hạn, V1 đã gặp để làm việc nhiều lần nhưng ông T1 vẫn không trả được nợ nên V1 thực hiện thủ tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn để yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Đình T1 phải thanh toán hết số tiền còn nợ cho V1, trường hợp ông T1 không trả được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 30/6/2024, V1 và Công ty Cổ phần M2 (Công ty M2) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, ký hiệu 359/PL01/HĐ07/2024/VPB-JUPITER. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty M2 đồng ý mua một phần khoản nợ của ông Trần Đình T1 tại V1 theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Cụ thể, Công ty M2 mua khoản nợ được xác định bằng 90% của nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 và Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 mà ông Trần Đình T1 đã ký kết với V1; 10% khoản nợ còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu của V1. Đồng thời, V1 chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty M2 kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản đảm bảo liên quan đến khoản nợ của ông Trần Đình T1. Trong đó có quyền khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án theo quy định của pháp luật. Tại Văn bản số 7907/2024/CV-JUPITER ngày 07/8/2024, Công ty M2 đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với phần khoản vay thuộc quyền sở hữu của Công ty M2 đề nghị Toà án sớm đưa vụ án ra xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về phía bị đơn ông Trần Đình T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông Trần Đình T1 đều vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không thể tổ chức hòa giải được. Theo kết quả xác minh ngày 28/5/2024, Công an xã Q, thị xã B cho biết ông Trần Đình T1 có đăng ký thường trú tại thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; tuy nhiên, ông T1 đã vắng mặt tại địa phương, hiện ông T1 đi đâu, làm gì Công an xã Q không rõ.

Về phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1: sau khi được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, ngày 04/7/2024, Toà án đã nhận được Đơn xin xét xử vắng mặt của bà Hoàng Thị H1 gửi đến. Nội dung đơn bà H1 trình bày: bà đã nhận được các văn bản triệu tập của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn gửi đến về việc giải quyết vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa V1 và ông Trần Đình T1 có liên quan đến bà, tuy nhiên dó hiện bà đang ở xa nên không thể trực tiếp có mặt tại Toà án để giải quyết nên bà xin phép được vắng mặt tại phiên toà, đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bà. Bà thừa nhận có ký kết Hợp đồng thế chấp với V1 để thế chấp tài sản là xe ô tô MITSHUBISHI XPANDER AT, số khung: MK2XRNC1WLN019446, số máy: 4A91KAC4544, biển kiểm soát 73A – 239.46, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73 011201, ngày 17/01/2022 mang tên Trần Đình T1, xe ô tô trên thuộc sở hữu của bà và ông T1 nhằm bảo đảm cho khoản vay của ông T1 tại V1. Còn việc ông T1 vay số tiền bao nhiêu, vay vốn như thế nào thì bà không rõ. Sau khi ký xong Hợp đồng thế chấp và nhận được xe thì ông T1 cũng một mình sử dụng chiếc xe này, hiện ông T1 và chiếc xe ở đâu bà cũng không biết. Nay V1 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô nêu trên thì bà hoàn toàn nhất trí để V1 toàn quyền xử lý theo quy định, còn về khoản vay không có liên quan gì đến bà nên bà không có ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn V1 xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, do V1 đã bán một phần khoản nợ cho Công ty M1 nên tại phiên toà hôm nay, V1 chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Đình T1 phải thanh toán cho V1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 61.223.364 đồng, bao gồm 46.058.671 đồng nợ gốc, 15.164.693 đồng nợ lãi; tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ theo các hợp đồng đã ký; trong trường hợp ông Trần Đình T1 không trả được nợ thì yêu cầu Tòa án buộc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.

- Đại diện của người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Công ty M1 xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Đình T1 phải thanh toán cho Công ty M1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 551.010.270 đồng, bao gồm 414.528.034 đồng nợ gốc, 136.482.236 đồng nợ lãi; tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ theo các hợp đồng đã ký; trong trường hợp ông Trần Đình T1 không trả được nợ thì yêu cầu Tòa án buộc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.

- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn, người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trần Đình T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ tính đến ngày 26/8/2024 là 61.223.364 đồng, bao gồm 46.058.671 đồng nợ gốc, 15.164.693 đồng nợ lãi và số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ; trả cho Công ty M1 số tiền còn nợ tính đến ngày 26/8/2024 là 551.010.270 đồng, bao gồm 414.528.034 đồng nợ gốc, 136.482.236 đồng nợ lãi và số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ; trường hợp ông T1 không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết.

Về án phí: buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định; hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M2 khởi kiện buộc ông Trần Đình T1 thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng mua bán nợ ký kết giữa các bên. Bị đơn trong vụ án không có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Trần Đình T1 có nơi cư trú tại thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Về tư cách tham gia tố tụng: theo Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, V1 khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Trần Đình T1 thanh toán số tiền còn nợ cho V1 nên V1 được xác định là nguyên đơn trong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 30/6/2024, V1 và Công ty M1 đã ký kết hợp đồng mua bán nợ, theo đó 90% khoản nợ của ông Trần Đình T1 tại V1 cùng với các quyền, nghĩa vụ liên quan trong đó có quyền khởi kiện, tham gia tố tụng đã được chuyển giao cho Công ty M1; ngày 13/8/2024, Toà án đã nhận được văn bản ý kiến của Công ty M1, nội dung yêu cầu được tham gia tố tụng và yêu cầu Toà án tiếp tục xét xử vụ án theo quy định. Căn cứ vào Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Công ty M1 được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là Người kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn. Do 10% khoản nợ vẫn thuộc quyền sở hữu của V1 nên V1 vẫn tiếp tục tham gia là nguyên đơn trong vụ án.

- Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các giấy triệu tập hợp lệ cho bị đơn ông Trần Đình T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị H1 theo địa chỉ được ghi trong Đơn khởi kiện và các Hợp đồng giữa hai bên mà nguyên đơn cung cấp; tuy nhiên ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Theo kết quả xác minh tại Công an xã Q, ông T1 và bà H1 đều có đăng ký thường trú tại thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhưng hiện đều vắng mặt tại địa phương; ông T1, bà H1 cũng không thông báo cho V1 việc mình đi khỏi địa phương. Theo hướng dẫn tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, trường hợp này xác định là bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ nên vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. Ngày 04/7/2024, bà Hoàng Thị H1 có Đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Đình T1 đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà và các giấy triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Trần Đình T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1.

[2] Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn V1, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Công ty M1 về việc buộc ông Trần Đình T1 trả nợ, xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy:

Nội dung tranh chấp trong vụ án liên quan đến Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022, Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 được ký kết giữa ông V1 và ông Trần Đình T1; Hợp đồng thế chấp số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 được ký kết giữa ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 với V1; Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER ngày 30/6/2024, Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, ký hiệu 359/PL01/HĐ07/2024/VPB-JUPITER ngày 30/6/2024 được ký kết giữa V1 và Công ty M2. Các hợp đồng này đều được ký kết hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung các hợp đồng đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.

Theo các Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ, báo có thì ngày 27/01/2022 và ngày 28/11/2022, V1 đã giải ngân cho ông Trần Đình T1 nhận đủ số tiền vay của Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 là 505.000.000 đồng và của Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 là 42.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Đình T1 đã không thực hiện các nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo đúng cam kết nên khoản vay của ông Trần Đình T1 đã bị chuyển sang nợ quá hạn, cụ thể khoản vay theo hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 chuyển quá hạn vào ngày 15/6/2023, khoản vay theo hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 chuyển nợ quá hạn vào ngày 15/4/2022. Do đó, V1 khởi kiện ông Trần Đình T1 yêu cầu trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

Mặt khác, theo Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER, ký hiệu 359/PL01/HĐ07/2024/VPB-JUPITER ngày 30/6/2024 thì trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, 90% các khoản nợ của ông Trần Đình T1 tại V1 theo các Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 và Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 đã được V1 chuyển giao cho Công ty M1; 10% khoản nợ còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu của V1. Đồng thời, Công ty M2 kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản đảm bảo liên quan đến khoản nợ của ông Trần Đình T1. Trong đó có quyền khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ tố tụng của V1 và Công ty M1 đã được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 365, 368 Bộ luật dân sự; do đó, Công ty M2 có quyền yêu cầu Toà án buộc ông Trần Đình T1 phải trả số tiền còn nợ tương ứng với phần quyền mà mình đã được V1 chuyển giao theo Hợp đồng mua bán nợ nêu trên.

Theo trình bày của đại diện nguyên đơn, người kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì tạm tính đến ngày 26/8/2024 ông Trần Đình T1 còn nợ V1 số tiền là 61.223.364 đồng, bao gồm 46.058.671 đồng nợ gốc, 15.164.693 đồng nợ lãi; còn nợ Công ty M1 số tiền là 551.010.270 đồng, bao gồm 414.528.034 đồng nợ gốc, 136.482.236 đồng nợ lãi. Số tiền này phù hợp với thỏa thuận được các bên ký kết tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng mua bán nợ đã nêu.

Từ những nhận định trên, có thể thấy yêu cầu của Nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với các quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 365, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận, buộc ông Trần Đình T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V và Công ty M1 toàn bộ số tiền còn nợ đã nêu trên và toàn bộ số tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại các Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022, Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 được ký kết giữa ông V1 và ông Trần Đình T1.

Xét yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp: ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 đã dùng xe ô tô MITSHUBISHI XPANDER AT, số khung: MK2XRNC1WLN019446, số máy: 4A91KAC4544, biển kiểm soát 73A – 239.46, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73 011201, ngày 17/01/2022 mang tên Trần Đình T1 làm tài sản thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay của ông Trần Đình T1 tại V1. Do hợp đồng thế chấp giữa hai bên đã có hiệu lực để thi hành nên nay V1 và Công ty M1 yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông Trần Đình T1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở. Cần căn cứ quy định tại các Điều 317, 318, 320, 323, 368 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu này. Trường hợp ông Trần Đình T1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì V1 hoặc Công ty M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ vay. Giá trị tài sản thế chấp sau khi được phát mại sẽ được phân chia để trả cho V1 và Công ty M1 theo tỷ lệ phần quyền mà hai bên đã thoả thuận tại Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER ngày 30/6/2024 (V1 10%, Công ty M1 90%).

[3] Về án phí: V1 và Công ty M1 được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí; trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho V1. Ông Trần Đình T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 74; Điều 144, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Các Điều 90, 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Các Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

Các Điều 3, Điều 7, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định “Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án”.

  1. Xét xử vụ án vắng mặt ông Trần Đình T1 và bà Hoàng Thị H1 .

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn Công ty cổ phần M2:

    • - Buộc ông Trần Đình T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 61.223.364 đồng, bao gồm 46.058.671 đồng nợ gốc, 15.164.693 đồng nợ lãi.

    • - Buộc ông Trần Đình T1 phải trả cho Công ty cổ phần M2 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/8/2024 là là 551.010.270 đồng, bao gồm 414.528.034 đồng nợ gốc, 136.482.236 đồng nợ lãi.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (27/8/2024) cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ, ông Trần Đình T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN2112234959320 ngày 10/01/2022 và Hợp đồng cho vay số LD2233201551 ngày 28/11/2022 được ký kết giữa ông V1 và ông Trần Đình T1.

    Trường hợp ông Trần Đình T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V hoặc Công ty cổ phần M2 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là ô tô MITSHUBISHI XPANDER AT, số khung: MK2XRNC1WLN019446, số máy: 4A91KAC4544, biển kiểm soát 73A – 239.46, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73 011201, ngày 17/01/2022 mang tên Trần Đình T1 để thu hồi nợ. Số tiền bán tài sản thế chấp sau khi được phát mại sẽ được phân chia để trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Công ty cổ phần M2 theo tỷ lệ phần quyền mà hai bên đã thoả thuận tại Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-JUPITER ngày 30/6/2024 (Ngân hàng Thương mại cổ phần V 10%, Công ty cổ phần M2 90%).

  3. Về án phí: buộc ông Trần Đình T1 phải chịu 28.489.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

    Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 13.126.619 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo biên lai số 0003334 ngày 10/5/2024.

  4. Về quyền kháng cáo: án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt) và trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án (đối với người vắng mặt).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;- Lưu hồ sơ vụ án;- Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận qyêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger