Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/KDTM -ST

Ngày 22.4.2024

V/v “tranh chấp hợp đồng thiết kế”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHẤU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh

Ông Huỳnh Thanh Trà

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Tòa án nhân dân quân Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-KDTM ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thiết kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04B/2024/QÐST-KDTM ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH T5. Trụ sở H N, Phường T, Quận G, Tp ., Việt Nam. Người đại diện: Ông LIN LI - Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Trần Vĩnh T và bà Phan Thị Thùy T1 (Theo giấy ủy quyền số 2411-2023/GYQ - SPCCD ngày 24/11.2023). Có đơn xin xét xử vắng mặt

*Bị đơn: Công ty Cổ phần X (Nay là Công ty Cổ phần Đ). Trụ sở: K P, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thành T2 - Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là trình bày:

Vào ngày 03 tháng 03 năm 2019, ba bên gồm Công ty Cổ phần X ( nay là Công ty Cổ phần Đ) và Hợp tác giữa Công ty TNHH T5 (sau đây gọi tắt là SINO) và Công ty Cổ phần E1 ký hợp đồng thiết kế số SPCCD-1901 (sau đây gọi tắt là hợp đồng) về dịch vụ thiết kế cho dự án Khu P. Tổng giá trị hợp đồng đã bao gồm thuế GTGT là 16.626.362.619 đồng, trong đó tổng giá trị hợp đồng của E là 3.850.000.000 đồng và của SINO là 12.776.362.619 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, SINO đã hoàn thành công việc và thực hiện hồ sơ yêu cầu thanh toán với tổng giá trị là 958.227.196 đồng (Chín trăm năm mươi tám triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng) bao gồm 2 đợt theo quy định tại mục 3.2.1 của Phụ lục số 03 theo Hợp đồng số SPCCD-1901:

- Đợt 1 (Khi ký hợp đồng) theo hóa đơn GTGT số 0000047 ngày 21 tháng 03 năm 2019 với số tiền là638.818.131 đồng (Sáu trăm ba mươi tám triệu, tám trăm mười tám ngàn, một trăm ba mươi mốt đồng). BETON 6 đã thanh toán hóa đơn này vào ngày 07 tháng 03 năm 2019 theo bảng sao kê ngân hàng chứng từ thanh toán;

- Đợt 2 (Sau khi phê duyệt thiết kế ý tưởng Phần 1) theo hóa đơn GTGT số 0000070 ngày 12 tháng 06 năm 2019 với số tiền là319.409.065 đồng (Ba trăm mười chín triệu, bốn trăm lẻ chín ngàn, không trăm sáu mươi lăm đồng). BETON 6 chưa thanh toán cho hóa đơn này. Đến tháng 06 năm 2019 Công ty S mới xuất hóa đơn cho giai đoạn thanh toán “Sau khi phê duyệt thiết kế ý tưởng Phần 1” vì đến thời điểm này dự án mới được Ủy ban nhân dân tỉnh A phê duyệt Tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 theo Quyết định số 1425/QĐUBND ngày 12 tháng 06 năm 2019. Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất đã được phê duyệt có thể hiện tên và dấu của Công ty S với vai trò Tư vấn thiết kế trong bản vẽ đính kèm theo Quyết định số 1425/QĐ-UBND ngày 12 tháng 06 năm 2019 làm cơ sở để xác định Công ty S đã hoàn thành xong công tác thiết kế ý tưởng và Công ty X đồng ý cho Công ty S xuất hóa đơn của giai đoạn này. Hiện nay đã gần bốn năm kể từ ngày gửi hồ sơ thanh toán đợt 2 SINO đã nhiều lần email cũng như liên hệ đại diện Chủ đầu tư yêu cầu thanh toán khoản nợ quá hạn nhưng Công ty Cổ phần X (Công ty Cổ phần Đ) vẫn không có động thái thực hiện thanh toán phần nợ quá hạn này.

Nhận thấy rằng việc Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) chậm thanh toán các khoản tiền dịch vụ đã vi phạm những thỏa thuận mà các bên đã thống nhất, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chúng tôi. Do đó, Công ty TNHH T5 khởi kiện Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để yêu cầu giải quyết:

1. Buộc Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) thanh toán số tiền còn nợ là 319.409.065 đồng (Ba trăm mười chín triệu, bốn trăn lẻ chín ngàn, không trăm sáu mươi lăm đồng).

2. Buộc Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) thanh toán khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán căn cứ theo Phụ lục số 3, Điều 3.4, Khoản b tạm tính đến ngày 25/05/2023 là 25.552.725 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm năm mươi hai ngàn, bảy trăm hai mươi lăm đồng).

Tổng số tiền mà Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) phải thanh toán là 344.961.790 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn triệu, chính trăm sáu mươi mốt ngàn, bảy trăm chín mươi đồng).

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) tham gia tố tụng tại phiên tòa để giải quyết vụ án nhưng Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) tiếp tục vắng nhưng vẫn không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

+ Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

+ Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH T5 buộc Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) số tiền nợ gốc là 319.409.065 đồng và khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán căn cứ theo Phụ lục số 3, Điều 3.4, Khoản b tạm tính đến ngày 25.05.2023 là 25.552.725 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) có trụ sở tại quận H, thành phố Đà Nẵng nên vụ án do Tòa án nhân quận Hải Châu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét Hợp đồng thiết kế số SPCCD-1901 (sau đây gọi tắt là hợp đồng) giữa các bên gồm Công ty Cổ phần X (Công ty Cổ phần Đ) và Hợp tác giữa Công ty TNHH T5 (sau đây gọi tắt là SINO) và Công ty Cổ phần E1 vào ngày 03 tháng 03 năm 2019 về dịch vụ thiết kế cho dự án Khu P. Nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy: Hợp đồng thiết kế SPCCD-1901 về dịch vụ thiết kế cho dự án Khu P ngày 03.3.2019 giữa Công ty Cổ phần X Beton6 với Công ty TNHH T5Công ty Cổ phần E1, cùng các Hóa đơn giá trị gia tăng do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định Công ty TNHH T5 đã thực hiện hợp đồng, hoàn thành công việc và thực hiện hồ sơ thanh toán với tổng giá trị là 958.227.196 đồng, bao gồm đợt 1 (Khi ký hợp đồng) theo hóa đơn GTGT số 0000047 ngày 21.03.2019: 638.818.131 đồng. BETON6 đã thanh toán theo bảng sao kê ngân hàng chứng từ thanh toán Đợt 1 tại mục 3.1.2 của Phụ lục số 03 theo Hợp đồng số SPCCD-1901; Đợt 2 (Sau khi phê duyệt thiết kế ý tưởng Phần 1) theo hóa đơn GTGT số 0000070 ngày 12.06.2019: 319.409.065 đồng thanh toán đợt 2 tại mục 3.1.2 của Phụ lục số 03 theo Hợp đồng số SPCCD-1901. Như vậy Công ty TNHH T5 đã hoàn thành công việc và thực hiện hồ sơ thanh toán (đợt 2) theo hóa đơn GTGT số 0000070 ngày 12.06.2019 với tổng giá trị là 319.409.065 đồng. Công ty TNHH T5 đã gửi hồ sơ thanh toán và nhiều lần nhắc nhở bằng email cũng như điện thoại nhưng vẫn không nhận được bất cứ thanh toán nào từ Công Ty Cổ phần X. Nay Công ty TNHH T5 yêu cầu Công ty Cổ phần X thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 25.05.2023 là 344.961.790 đồng, trong đó số tiền còn nợ là 319.409.065 đồng, khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 25.552.725 đồng.

Xét thấy, hợp đồng thiết kế được ký kết giữa Công ty Cổ phần X với Công ty TNHH T5, Công ty Cổ Phần E1 là hợp pháp, thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên ràng buộc các bên tham gia ký kết. Công ty Cổ phần X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công Ty Cổ Phần X phải trả cho Công Ty TNHH T5 số tiền tính đến ngày 25.05.2023 là 344.961.790 đồng, trong đó số tiền còn nợ là 319.409.065 đồng, khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 25.552.725 đồng.

[2.2] Về phía bị đơn Công ty Cổ phần X đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Công Ty TNHH T5 và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc. Theo kết quả xác minh hiện Công ty cổ phần Đ (tên cũ: Công ty cổ phần X) được Phòng đăng ký kinh doanh TP Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu vào ngày 29/12/2011, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 22.3.2022, địa chỉ trụ sở chính: K P, phường H, quận H, TP Đà Nẵng, người đại diện theo pháp luật: Phạm Thành T2- chức danh: giám đốc. tình trạng pháp lý của doanh nghiệp: đang hoạt động.

[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi : Công Ty Cổ Phần X BETON6 chậm thanh toán các khoản tiền dịch vụ, vi phạm thỏa thuận mà các bên đã thống nhất, do đó việc Công Ty TNHH T5 yêu cầu Công Ty Cổ phần X BETON6 thanh toán số tiền còn nợ là 319.409.065 đồng và phải thanh toán khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là phù hợp với quy định tại khoản b, Điều 3.4, Phụ lục số 3 – Các Điều Khoản và Phương Thức Thanh Toán của Hợp đồng số SPCCD 1901 có quy định: “Bên A thanh toán cho Bên B số tiền trên trong vòng mười (10) ngày theo từng giai đoạn thanh toán kể từ ngày Bên B giao nộp cho Bên A giấy đề nghị thanh toán khoản phí thiết kế và hóa đơn tài chính ... Nếu chậm thanh toán do Bên A thì Bên A phải trả thêm cho Bên B số tiền lãi tương đương 0.1% tổng giá trị chậm thanh toán cho mỗi ngày trả chậm, tổng số tiền phạt sẽ không vượt quá 8% tổng giá trị hợp đồng.”. Theo Đơn khởi kiện ngày 25/5/2023: Số tiền lãi trả chậm mà Nguyên đơn yêu cầu được tính từ ngày 22/6/2019 đến 25/5/2023 với số tiền nợ 319.409.065 đồng x 0.1% x 1.433 ngày quá hạn = 457.713.190 đồng. Số tiền này nằm trong mức không vượt quá 8% của tổng giá trị hợp đồng. Tuy nhiên, ngày 22/02/2024 Công ty TNHH T5 có văn bản chỉ yêu cầu thanh toán số tiền lãi trả chậm tính đến ngày khởi kiện 25/5/2023 với số tiền là 319.409.065 đồng x 8% = 25.552.725 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy là là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty Cổ phần X ( Công ty Cổ phần Đ) phải chịu án phí kinh doanh và thương mại sơ thẩm là 17.248.089 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 50, 306 của Luật Thương mại; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T5 đối với Công ty Cổ phần Đ ( tên gọi cũ là Công ty Cổ phần X)

Xử:

1. Buộc Công ty Cổ phần Đ ( tên gọi cũ là Công ty Cổ phần X) phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH T5 số tiền là 344.961.790 đồng. (bằng chữ: ba trăm bốn mươi bốn triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm chín mươi đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 319.409.065 đồng và tiền lãi là 25.552.725 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Án phí kinh doanh và thương mại sơ thẩm là 17.248.089 đồng Công ty Cổ phần Đ phải chịu.

- Công ty TNHH T5 không phải chịu án phí kinh doanh và thương mại sơ thẩm. Nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.624.045 đồng theo biên lai thu số 0001341 ngày 06/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.

3. Về quyền kháng cáo: Công ty TNHH T5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty Cổ phần Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND quận Hải Châu;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Ngọc Kinh Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/KDTM-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thiết kế

  • Số bản án: 15/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thiết kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-KDTM ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thiết kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04B/2024/QĐST-KDTM ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger