TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày: 29-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Công Tài;
- Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T, sinh ngày 22/12/1977; nơi sinh: huyện V, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q, Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Võ Thị A, sinh năm 1956 (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị T2, sinh năm 1977; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/01/2000, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”; ngày 25/5/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong ngày 08/6/2013; ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong ngày 16/6/2019; ngày 20/6/2016, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2023, chuyển tạm giam ngày 25/12/2023, tại nhà tạm giữ Công an huyện Q. Có mặt.
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Trường L, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại khu vực ngã ba chợ N thuộc thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, tổ công tác gồm Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Q, Công an xã Q và Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 phát hiện một người nam thanh niên vừa xuống xe khách Anh Thư (biển số 92B01790) mang theo túi xách có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra.
Qua kiểm tra, người thanh niên khai tên Nguyễn Quốc T (sinh năm 1977; trú tại TDP L, thị trấn Đ, huyện Q, Quảng Nam), bị cáo T tự nguyện giao nộp 01 ví da màu đen bên trong có 01 túi ni lông không màu, miệng túi có viền màu đỏ, kích thước (7 x 5) cm bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng cục bột (nghi là heroin); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET được buộc lại bằng dây su màu đen (được lấy từ túi xách màu đen), bên trong có 01 túi ni lông không màu, miệng túi có viền màu đỏ, kích thước (11 x 6,5) cm bên trong có một túi ni lông chứa nhiều chất rắn màu trắng dạng cục, bột (nghi là heroin). Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ 01 điện thoại hiệu Realme C21Y bên trong có sim số điện thoại 0762.792.xxx và 0369625981; số tiền 600.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Quốc T; tiến hành thử mẫu phát hiện nhanh chất ma túy và cân khối lượng, kết quả: 02 gói ni lông có chứa chất rắn màu trắng, dạng cục, bột bị cáo giao nộp là ma túy, loại heroin. Túi ni lông kích thước (7 x 5) cm có khối lượng 1,29 gam, túi ni lông kích thước (11 x 6,5) cm khối lượng 38,6 gam; thử nhanh ma túy bằng nước tiểu, kết quả bị cáo dương tính với ma túy, nhóm O.
Quá trình làm việc, bị cáo khai nhận vào sáng ngày 15/12/2023, bị cáo đón xe khách Hùng Mai tại huyện Q đi Thành phố Hồ Chí Minh để làm thuê tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến sáng ngày 16/12/2023, bị cáo đến khu vực xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ cụ thể). Bị cáo vào thuê nhà nghỉ (không nhớ tên nhà nghỉ) để ngủ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo đến một quán cà phê gần nhà nghỉ thì thấy 01 đàn ông đang sử dụng ma túy tại bụi cây lau sát quán (sau này bị cáo biết được người đàn ông này tên Q; không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Bị cáo đến gặp Q và nhờ Q mua giúp 200.000 đồng ma túy, loại heroine. Q đồng ý, bị cáo đưa tiền cho Q, khoảng 30 phút sau Q quay lại đưa cho bị cáo 01 gói ma túy, loại heroine. Bị cáo mang số ma túy này về nhà nghỉ, đến chiều cùng ngày bị cáo mang ra sử dụng. Đến chiều ngày 17/12/2023, bị cáo tiếp tục đến quán cà phê trên để gặp Q. Bị cáo đến thì thấy Q đã ở quán, lúc này bị cáo nhờ Q mua giúp 20.000.000 đồng ma túy, loại Heroine. Q đồng ý, rồi nói bị cáo đợi. Q đi khoảng 30 phút thì quay lại, bị cáo đưa cho Q 20.000.000 đồng, Q đưa cho bị cáo 02 gói ma túy (01 gói ni lông nhỏ và 01 gói lớn đựng trong vỏ bao thuốc lá JET màu trắng). Bị cáo mang số ma túy trên về nhà nghỉ, lấy vỏ bao thuốc lá có chứa gói ma túy lớn cất giấu vào ngăn đầu tiên của túi xách đựng quần áo, còn gói nhỏ bị cáo cất giấu vào túi quần phía trước, bên phải. Đến sáng ngày 18/12/2023, bị cáo ra khu vực bến xe A thuộc Thành phố Hồ Chí Minh đón xe khách A để đi về nhà. Khoảng 02 giờ 30 phút sáng ngày 19/12/2023, xe khách Anh Thư đến ngã ba chợ nón thuộc xã Q, huyện Q thì bị cáo xuống xe. Khi bị cáo vừa xuống xe thì bị Công an đến kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy như đã nêu trên.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q tiến hành khám xét nhà ở của bị cáo tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ toàn bộ số ma túy nêu trên nhằm mục đích để sử dụng. Ngoài ra, bị cáo khai nhận trước đó có mua ma túy của người tên Đ (không rõ họ, địa chỉ) tại xã T, huyện T về để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 2612/KL-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận: chất rắn dạng cục, bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại heroine; khối lượng chất rắn dạng cục, bột, màu trắng bên trong túi ni lông không màu, kích thước (7 x 5) cm là 1,74 gam; khối lượng chất rắn dạng cục, bột, màu trắng bên trong túi ni lông không màu, kích thước (11 x 6,5) cm là 37,64 gam.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 02 túi ni lông không màu có viền màu đỏ, kích thước (7 x 5) cm và (11 x 6,5) cm bên trong có nhiều chất rắn màu trắng, dạng cục, bột (túi niêm phong PS2, mã số 2126930); 01 vỏ bao thuốc lá J đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 600.000 đồng; 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc T; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 túi ni lông không màu có viền màu đỏ, kích thước (11 x 6,5) cm; 01 dây cao su màu đen; 01 điện thoại di động hiệu REALME C21Y, màu xanh dương có số IMEI1 860666054108938, số IMEI2 860666054108920, bên trong có chứa thẻ sim 0762792970 và sim 0369605981 (túi niêm phong PS2 2011049); 01 túi xách bằng vải màu đen đã qua sử dụng có kích thước (30 x 38) cm.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSQS ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 11 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 19/12/2023.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong số 2612/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật ma tuý hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong số 2615/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu REALME C21Y, màu xanh dương có số IMEI1 860666054108938, số IMEI2 860666054108920, bên trong có chứa thẻ sim 0762792970 và sim 0369605981 (túi niêm phong PS2 2011049); 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc T do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 túi ni lông không màu có viền màu đỏ, kích thước (11x6,5)cm; 01 dây cao su màu đen; 01 túi xách bằng vải màu đen có kích thước (30x38)cm do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không muốn nhận lại.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000 đồng là tài sản của bị cáo, để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Bị cáo là người nghiện ma túy. Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại khu vực ngã ba chợ N thuộc thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 39,38 gam, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKSQS ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội: ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại, hậu quả của việc sử dụng chất ma túy nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mẹ bị cáo là thương binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[6]. Đối với hành vi của những người có liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông tên Q và Đ mà bị cáo khai đã nhờ mua ma túy, bị cáo không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Q và Đ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong số 2612/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật ma tuý hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong số 2615/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu REALME C21Y, màu xanh dương có số IMEI1 860666054108938, số IMEI2 860666054108920, bên trong có chứa thẻ sim 0762792970 và sim 0369605981 (túi niêm phong PS2 2011049); 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc T do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 túi ni lông không màu có viền màu đỏ, kích thước (11 x 6,5) cm; 01 dây cao su màu đen; 01 túi xách bằng vải màu đen có kích thước (30 x 38) cm do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không muốn nhận lại.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000 đồng là tài sản của bị cáo, để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo số tiền thừa sau khi thi hành án xong.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (19/12/2023).
2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 2612/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật ma tuý hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong số 2615/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu REALME C21Y, màu xanh dương có số IMEI1 860666054108938, số IMEI2 860666054108920, bên trong có chứa thẻ sim 0762792970 và sim 0369605981 (túi niêm phong PS2 2011049); 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc T.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 túi ni lông không màu có viền màu đỏ, kích thước (11 x 6,5) cm; 01 dây cao su màu đen; 01 túi xách bằng vải màu đen có kích thước (30 x 38) cm.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000 đồng là tài sản của bị cáo, để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo số tiền thừa sau khi thi hành án xong.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024. Riêng số tiền 600.000 đồng được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 24/4/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29-5-2024).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Nguyên Vỹ |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T tàng trữ ma túy
