1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày 22/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Cường và ông Nguyễn Bá Lưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc M, sinh năm1984, tại Quảng Trị; nơi cư trú: khóm E, thị trấn B, V, Quảng Trị; nghề ngiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H (đã chết) và bà Võ Thị B; có chồng là Phan Sỹ K; có 02 con, lớn sinh năm 2004; nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
1. Người làm chứng:
- Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1984; trú tại: Khóm E, thị trấn B, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Hoàng Đại D, sinh năm 1970; trú tại: Khóm A, thị trấn B, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Thái Hồng B1, sinh năm 1951; trú tại: Khóm C, thị trấn B, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn thu lợi bất chính nên Phạm Ngọc M đứng ra làm chủ số lô, số đề tại nhà ở của mình ở khóm E, thị trấn B, huyện V. M ngồi ở khu vực bàn cạnh cửa ra vào phòng ngủ của mình để bán số lô, số đề cho người chơi. Người chơi đến mua số lô, số đề, M ghi số lô, số đề mà người chơi mua cùng số tiền mua vào một mẩu giấy nhỏ, màu vàng (tờ phơi) đưa cho người chơi, sau đó M ghi chép số lô, số đề và số tiền mà người chơi đã mua vào một tờ giấy khổ A4 (bảng đề) để lưu trữ lại. Trên cơ sở kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền trung mà người chơi đã mua để tính thắng thua với người chơi. Nếu trúng, người chơi chỉ cần đưa tờ phơi đến gặp M để nhận tiền; tỷ lệ thắng thua là: Giải 18 lô được tính là 02 số ở hàng chục và hàng đơn vị của tất cả các giải, tỷ lệ thắng thua là 1: 5, có nghĩa là người chơi nếu đánh trúng sẽ được ăn số tiền gấp 5 lần số tiền bỏ ra để mua số lô ban đầu, nếu không trúng thì mất số tiền đã bỏ ra mua số lô ban đầu. Giải đặc biệt là ba số ở hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị của giải đặc biệt với tỷ lệ thắng thua là 1: 600. Giải 6 lô là ba số ở hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị của các giải đặc biệt, giải năm, giải sáu, giải bảy, tỷ lệ thắng thua là 1:100. Giải 17 lô là ba số ở hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị của tất cả các giải trừ giải 8, tỷ lệ thắng thua là 1: 29. Đầu là giải 8, tỷ lệ thắng thua là 1: 70. Đuôi là hai số ở hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt, tỷ lệ thắng thua là 1:70.
Vào chiều ngày 05/01/2024, M bán số lô, số đề các đài miền trung là Gia L và Ninh T1 cho người chơi. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, ông Thái Hồng B1 (sinh năm 1951; trú tại khóm C, TT B) đến mua số lô, số đề. Ông B1 mua đài Ninh Thuận, giải 18 lô con 33, 43, 34, 52, 13 và 31 mỗi con 30.000 đồng, giải 6 lô và 17 lô con 133 đảo 3 vòng mỗi vòng 10.000 đồng, tổng cộng là 240.000 đồng”. Vào khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày có Hoàng Đại D (sinh năm 1970; trú tại: Khóm A, TT B) đến mua đài Gia Lai, giải 18 lô gồm các số 25, 52, 57, 73, 26, 27, 28, 37, 86, 68, 21 và 77 với số tiền 100.000 đồng mỗi số, tổng cộng hết 1.200.000đ. Đến khoảng 17h00 cùng ngày, Phạm Xuân T2 (sinh năm 1984; trú tại: Khóm E, TT B) đi vào vị trí M đang ngồi để mua số lô, số đề, T2 mua đài Ninh Thuận, giải 18 lô con 45 với số tiền 500.000 đồng và giải đặc biệt con 545 đảo 3 vòng, mỗi vòng 10.000 đồng, tổng cộng hết 530.000đ. Trong khoảng thời gian này còn có nhiều người đến mua số lô, số đề đều là người lạ mặt nên M không rõ những người đó tên gì, ở đâu. Tuy nhiên, mỗi lần bán số lô số đề ra M đều ghi tờ phơi để giao cho khách đánh, thu tiền và ghi chép toàn bộ số lô, số đề cùng số tiền bán được vào tờ bảng đề để lưu trử lại. Khi M đưa tờ phơi đề cho T2 và nhận số tiền 530.000 đồng từ T2 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ toàn bộ số tang vật liên quan đến vụ việc gồm tờ bảng để, tờ phơi đề M viết cho T2, bút bi, tờ phơi chưa viết (gồm 30 tờ) và số tiền 7.350.000₫ mà M bán số lô, số đề có được vào ngày 05/01/2024.
Bản Kết luận giám định số 321/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
“1. Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (trừ chữ ký, chữ viết tại mục Điều tra viên trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 và chữ ký, chữ viết tại mục ĐTV trên tài liệu so sánh ký hiệu M2) là chữ do cùng một người viết ra.
2. Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3, A4 (trừ chữ ký, chữ viết mang tên Phạm Xuân T3 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2; chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Đại D trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 và chữ ký, chữ viết mang tên Thái Hồng B1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4) so với chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (trừ chữ ký, chữ viết tại mục Điều tra viên trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 và chữ ký, chữ viết tại mục ĐTV trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2) là do chữ cùng một người viết ra.”
Cáo trạng số 12/CT-VKSVL ngày 25/3/204 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh truy tố bị cáo Phạm Ngọc M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Phạm Ngọc M về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. xử phạt Phạm Ngọc M từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Phạm Ngọc M đã có hành vi đánh bạc trái phép thua thắng bằng tiền dưới hình thức ghi số đề và chi trả kết quả trúng thưởng cho người chơi dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của Nhà nước vào ngày 05/01/2024 đó là kết quả của Công ty X và Công ty X1 vào ngày thứ 6 hàng tuần với tổng số tiền 7.350.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm vào trật tự an toàn xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội không phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà xem xét áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
[4] Về xử lý các vật chứng: Tiền do ngân hàng N phát hành tổng số 7.350.000 đồng thu giư của các bị cáo, là tang vật trong vụ án, hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện V nên cần tich thu, nộp ngân sách nhà nước. 30 tờ giấy màu vàng; 01 cây bút bi màu xanh là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.
[5] Các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội cần lưu giữ tại hồ sơ đó là:
- 01 tờ giấy trắng, khổ A4, bên trên ghi các chữ, số thể hiện nội dung các số đề và số tiền chơi của đài xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Thuận và Gia Lai ngày 05/01/2024, có chữ ký xác nhận của Phạm Ngọc M;
- 01 tờ giấy màu vàng kích thước 7,5 x 5 cm, bên trên có nội dung “5/1 N.Thuận” “181: 45 x 500”, “Đb : 545 x 3v x 10”, “TC: 530”, có chữ ký xác nhận của Phạm Xuân T2.
- 01 tờ giấy màu vàng (phơi đề) kích thước 7,5 x 5 cm, bên trên có nội dung “5/1 N.Thuận” “61 + 171 : 133 x 3v x 10 x 10”, “181: 33 43 34 52 13 31 x30”, “TC: 240”, có chữ ký xác nhận của Thái Hồng B1.
- 01 tờ giấy màu vàng kích thước 7,5 x 5 cm, bên trên có nội dung “5/1 Gia lai” “181: 25 52 73 26 27 28 37 86 68 21 77 x 100”, “TC: 1.200”, có chữ ký xác nhận của Hoàng Đại D.
[6] Các vấn đề khác: Phạm Xuân T2, Hoàng Đại D, Thái Hồng B1 đã tham gia đánh bạc vào ngày 05/01/2024 với hình thức đã mua các số lô đề tại Phạm Ngọc M. Tuy nhiên, số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 01/02/2024, Công an huyện V đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Ngày 05/01/2024, Phạm Ngọc M có bán lô đề cho một số khác nhưng không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc M phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc M 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.350.000 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện V theo công văn 04/CV/ĐCSHS ngày 11/01/2024 của Công an huyện V.
- - Tịch thu tiêu hủy: 30 (ba mươi) tờ giấy màu vàng; 01 (một) cây bút bi màu xanh, bên trên có ký hiệu TL 023. Vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh và Công an huyện V.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 135 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Phạm Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vĩnh |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M đánh bạc
