Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày: 15/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Kim Trị.
  2. Bà Nguyễn Thị Phú.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST - HS ngày 23/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024, đối với các bị cáo:

  1. Trương Văn H, sinh năm 2001.
  2. HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trương Văn D và bà Hà Thị N; vợ con: chưa có;

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

  3. Dương Thành V, sinh năm 1982;
  4. HKTT: Khu T, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Dương Hồng H1 và bà Trịnh Thị D1; có vợ là Nguyễn Thị N1 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2023.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Tại Bản án số 39/ HSST ngày 15/5/2000 của Tòa án nhân dân TP Bắc Ninh xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1, Điều 155 BLHS năm 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 15/5/2001.
    • Ngày 16/7/2013 bị Chủ tịch U ra Quyết định xử lý hành chính áp dụng biện pháp giáo dục đưa vào Trung tâm giáo dục - dạy nghề hướng thiện tỉnh B, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 07/8/2015.
    • Tại Bản án số 07/HSST ngày 24/12/2018 của Tòa án nhân dân TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 17 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 249 BLHS. Chấp hành xong án phí ngày 06/5/2019, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 17/01/2020.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

  5. Nguyễn Nghĩa Đ, sinh năm 1996.
  6. HKTT: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Nghĩa T và bà Nguyễn Thị C; vợ con: chưa có;

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại:

  1. Bùi Văn S, sinh năm 2003. HKTT: Xóm K, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
  2. Anh Bùi Văn Đ1, sinh năm 2004 (vắng mặt).
  3. Bùi Văn H2, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Cùng HKTT: Xóm Tre, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1985. HKTT: Xóm Tre, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
  2. Anh Bùi Văn P, sinh năm 1986. HKTT: Xóm K, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
  3. Bà Hà Thị N, sinh năm 1979. HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An (có mặt).
  4. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985. HKTT: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn H đến khu D, phường P, thị xã Q thuê nhà và mở văn phòng tuyển dụng công nhân từ khoảng tháng 2/2024. Đến đầu tháng 3/2024, H thuê anh Bùi Văn S, anh Bùi Văn Đ1, anh Bùi Văn H2 vào làm việc tại văn phòng tuyển dụng. Đến ngày 25/5/2024, Trương Văn H biết nhóm anh S có ý định tách ra làm riêng, đã môi giới cho thuê công nhân thời vụ không thông qua văn phòng và làm hỏng máy tính của văn phòng, nên Trương Văn H yêu cầu nhóm anh S phải trả lại số tiền hưởng lợi cho thuê công nhân thời vụ và tiền sửa máy tính bị hỏng, nhưng nhóm anh S không đồng ý và có lời qua tiếng lại với H. Sau đó, H gọi điện cho Trịnh Quang K, sinh năm 1986, HKTT: Khu C, phường T, TP B, tỉnh Bắc Ninh (bạn quen biết ngoài xã hội của H) nhờ xuống giải quyết để đòi nợ nhóm anh S. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, K đi xe taxi xuống gặp H hỏi sự việc, thì H bảo bọn nó lấy công nhân của em đi mất bao nhiêu tiền rồi. Nghe vậy, K gọi điện thoại cho Dương Thành V đến văn phòng của H có việc. Sau đó, V rủ Nguyễn Nghĩa Đ cùng thuê xe taxi đi đến gặp K và H. Tại đây, H nói với V và Đ việc bị nhóm anh S cho các văn phòng tuyển dụng khác thuê công nhân thời vụ ăn chặn tiền không trả. Sau đó, V bảo Đ, H cùng nhóm anh S đi lên xe taxi để đi giải quyết (Lúc này K đi chơi cùng bạn gái và không đi cùng mọi người). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi xe taxi đi đến đoạn đường thuộc Khu công nghiệp Q thuộc phường V, thị xã Q thì V bảo lái xe taxi dừng lại rồi yêu cầu anh Đ1, anh S, anh Bùi H2 xuống xe ngồi lên vỉa hè cách vị trị taxi đỗ khoảng 10 mét, rồi V lấy 01 chiếc dép ở dưới chân (loại dép tông xốp nhẹ) dùng dép đánh liên tục vào mặt anh Đ1, anh S và anh Bùi H2. Khi bị V đánh, nhóm anh S có thừa nhận về việc cho thuê công nhân thời vụ không qua văn phòng, chấp nhận bị phạt số tiền là 5.000.000 đồng, còn anh Bùi H2 thì chấp nhận bồi thường máy tính bị hỏng 7.000.000 đồng. Tuy nhiên, V không đồng ý và tiếp tục dùng dép đánh, còn Trương Văn H dùng chân tay đánh anh S, anh Đ1 và anh Bùi H2, còn Đ đứng bên cạnh. Do sợ tiếp tục bị đánh nên anh S, anh Đ1 chấp nhận mỗi người bồi thường cho H2 10.000.000 đồng. Khi đó, V và H2 yêu cầu nhóm anh S gọi điện cho người thân vay tiền để chuyển trả cho H2, tuy nhiên do điện thoại của anh S hết pin, nên V bảo Đ đưa anh S mang điện thoại ra nhờ lái xe taxi sạc pin điện thoại để gọi về cho người nhà chuyển tiền cho H2. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh Đặng G cho anh Bùi Văn L (là chú họ của Đ1) nhờ chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của Trương Văn H nhưng do không đủ tiền nên anh L chỉ chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản của H. Tiếp đó, S gọi cho anh Bùi Văn P (là anh họ của S) nói đang bị đánh ở khu công nghiệp Q 3 nhờ anh P xuống trả tiền. Đến khoảng 23 giờ ngày 25/5/2024, anh P đi taxi đến nói chuyện với Trương Văn H và V và chuyển khoản 8.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V2 của Trương Văn H. Sau đó, anh S chuyển khoản thêm số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của H thì được V, Đ và Trương Văn H cho đi về cùng anh P. Sau khi cho anh S về, Trương Văn H đi đến dùng tay đánh vào đầu anh Đ1 và anh Bùi H2 yêu cầu anh Đ1 viết giấy nợ số tiền 8.000.000 đồng, anh Bùi H2 viết giấy nợ 7.000.000 đồng, do sợ bị đánh tiếp nên cả hai đều đồng ý. Lúc này, V bảo Trương Văn H cho V số tiền 3.000.000 đồng, Trương Văn H đồng ý và chuyển khoản 3.000.000 đồng vào tài khoản của Dương Thành V. Khi V nhận được tiền đã cùng Đ đi bộ ra về. Sau đó, Trương Văn H gọi taxi đi cùng anh Đ1 và anh Bùi H2 về văn phòng tuyển dụng tại khu D, phường P, thị xã Q. Tại đây, Trương Văn H ép buộc anh Đặng V1 giấy nợ số tiền 8.000.000 đồng, anh Bùi H2 viết giấy nợ số tiền 7.000.000 đồng. Đến ngày 26/5/2024, do sợ anh Đặng trình B Công an nên Trương Văn H đã đến gặp và trả lại anh Đ1 số tiền 2.000.000 đồng.

Với nội dung trên, Cáo trạng số: 163/CT-VKS ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Dương Thành V, Trương Văn H và Nguyễn Nghĩa Đ về tội “Cướp tài sản” quy định tại Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo V, H và Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận, cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Những người bị hại là anh Bùi Văn S, anh Bùi Văn Đ1 và anh Bùi Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, xác nhận đã được các bị cáo bồi thường đầy đủ và không yêu cầu gì thêm, đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Bùi Văn L, anh Bùi Văn P xin xét xử vắng mặt, bà Hà Thị N và chị Nguyễn Thị N1 có mặt tại phiên tòa, đều không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:

  • Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn H, Dương Thành V và Nguyễn Nghĩa Đ phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 cho bị cáo H và bị cáo V); các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự; các điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
  • Xử phạt:
    • Bị cáo Trương Văn H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
    • Bị cáo Dương Thành V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
    • Bị cáo Nguyễn Nghĩa Đ từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo và người liên quan có mặt tại phiên tòa không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, bị hại, xác định hiện trường vụ án, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và trình bày đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình. Do vậy, những người này vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, kết luận định giá và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/5/2024, tại đường nội bộ khu công nghiệp Q thuộc phường V, thị xã Q, Dương Thành V, Trương Văn H và Nguyễn Nghĩa Đ có hành vi đe dọa, dùng dép xốp và chân tay đánh anh Bùi Văn S, anh Bùi Văn Đ1 và anh Bùi Văn H2 để chiếm đoạt số tiền 27.000.000 đồng trong đó đã chiếm đoạt được số tiền 12.000.000 đồng của anh Đ1, anh S.

Do vậy, các bị cáo Dương Thành V, Trương Văn H và Nguyễn Nghĩa Đ phạm tội "Cướp tài sản" quy định Khoản 1, Điều 168 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.

[2.2] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó H và V cùng nhau đánh và dọa các bị hại để chiếm đoạt tiền của các bị hại, sau đó H tiếp tục dọa, ép các bị hại phải viết giấy nợ nên H có vai trò cao hơn V; Đ là người giúp sức H, V để chiếm đoạt tiền của các bị hại nhưng không đánh các bị hại nên có vai trò thấp nhất.

[2.3] Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an của địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2.4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội các bị cáo đều ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đều được các bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H và V đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh S số tiền đã chiếm đoạt; Bị cáo H có ông ngoại là ông Hà Văn Đ2 được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì, bị cáo V có bố đẻ là ông Dương Hồng H1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên cùng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[2.7] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc dép Dương Thành V sử dụng để đánh anh S, anh Đ1 và anh H. Quá trình điều tra V khai nhận chiếc dép bị hỏng nên V đã vứt tại khu vực ven đường (V không nhớ vị trí cụ thể). Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được. Khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

[2.8] Liên quan đến vụ án này:

Đối với Trịnh Quang K là người đã gọi Dương Thành V và Nguyễn Nghĩa Đ đến đòi nợ giúp Trương Văn H. Quá trình điều tra K không biết việc V, Đ và H có hành vi cướp tài sản của các bị hại nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với lái xe taxi đã chở V, H và Đ cùng nhóm anh S đến khu công nghiệp Q số 3. Quá trình điều tra các bị can và nhóm anh S không nhớ biển số xe và không biết tên, tuổi địa chỉ của lái xe nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với thương tích của anh S, anh Đ1 và anh Bùi H2 do bị V, Trương Văn H đánh. Quá trình điều tra anh S, anh Đ1 và anh Bùi H2 chỉ bị xây sát nhẹ nên từ chối giám định thương tích và không yêu cầu các bị can phải bồi thường gì thêm.

[2.9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn H, Dương Thành V và Nguyễn Nghĩa Đ phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 cho bị cáo H và bị cáo V); các điều 38, 17, 58 Bộ luật Hình sự; các điều 136, 329, 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
  3. Xử phạt:
    • - Bị cáo Trương Văn H 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
    • - Bị cáo Dương Thành V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
    • - Bị cáo Nguyễn Nghĩa Đ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.
  4. Tạm giam các bị cáo Dương Thành V, Trương Văn H và Nguyễn Nghĩa Đ, mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  5. Về án phí: Dương Thành V, Trương Văn H và Nguyễn Nghĩa Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 Đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TX. Quế Võ;
  • - Công an TX. Quế Võ;
  • - Chi cục THADS TX. Quế Võ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu HS, VT;

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phú

Phan Văn Hiếu

Phan Đình Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về hình sự về tội "cướp tài sản"

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Cướp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger