Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày: 14/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cát Tưởng(giáo viên).

Ông Nguyễn Đình Vụ.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc L; sinh ngày 19 tháng 05 năm 2007; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...]; Văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1976; Con bà: Ngô Thị T1, sinh năm 1978; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không. Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 08/08/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1976 Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Là bố của bị cáo. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh V, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy L1, sinh ngày 17/10/2007 Địa chỉ: Phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L2; sinh năm: 1988; địa chỉ: Phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T; sinh năm: 1976. Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7 năm 2024, Nguyễn Phúc L sử dụng nick facebook tên "Cu Tuấn" kết bạn làm quen với chị Nguyễn Thị Thùy L1, sinh ngày 17/10/2007, trú tại phố D, phường T, thành phố T sử dụng nick facebook tên "Nguyễn Thùy L3". Quá trình nói chuyện qua tin nhắn, L giới thiệu với chị L1 tên là T2, sinh năm 2005, ở xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau một thời gian nhắn tin nói chuyện với nhau, L hẹn gặp chị L1 đi chơi và được chị L1 đồng ý.

Tối ngày 03/8/2024, chị L1 chia sẻ vị trí của mình qua tin nhắn cho L. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển kiểm soát 36P5-3353 đi từ nhà ở xã T, huyện T đến phố D, phường T, thành phố T gặp chị L1 và sau đó sử dụng xe mô tô chở chị L1 đi chơi trên các tuyến đường thuộc địa phận phường T và phường T, thành phố T. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Đ thuộc địa phận phố C, phường T, thành phố T thì L dừng xe, tắt máy. L xuống xe còn chị L1 vẫn ngồi trên yên xe máy bấm điện thoại, L tiến lại ôm và hôn chị L1. Sau đó, chị L1 xuống xe, tay vẫn cầm bấm điện thoại, L tiếp tục tiến lại ôm hôn chị L1 nhưng bị chị L1 đẩy ra. Lúc này L nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên của chị L1, L hỏi mượn điện thoại của chị L1 nhưng chị L1 không cho mượn và đi bộ cách vị trí của L đứng khoảng 02 mét về hướng phường T. L gọi chị L1 lại nhưng chị L1 nói với L chở mình đi về, L đồng ý bật chìa khóa nổ xe mô tô để làm tin. Khi chị L1 đi đến gần chỗ L, L đi bộ quay lại ôm hôn chị L1, chị L1 vùng vằng đẩy L ra, L liền giật chiếc điện thoại Iphone 11 của chị L1 đang cầm trên tay rồi chạy bộ ra lấy xe bỏ chạy, chị L1 chạy đuổi theo L và hô "Ố anh ơi điện thoại của em" nhưng L vẫn tiếp tục tăng ga bỏ chạy. Cướp giật được điện thoại, L điều khiển xe mô tô đi về nhà kiểm tra bên trong ốp điện thoại có Căn cước công dân của chị L1. Chiếc ốp điện thoại màu hồng, L vứt bỏ ở bờ ruộng cuối ngõ nhà L, còn sim L tháo và bẻ vứt đi.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận về giá của tài sản 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11 màu xanh, số máy MWJ02LL/A, số IMEI 356805110200591 màn hình bị hỏng, đã qua sử dụng. Giá trị tài sản: 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

Ngày 05/8/2024, Nguyễn Phúc L đến Công an thành phố T đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại cùng xe mô tô biển kiểm soát 36P5-3353. Quá trình điều tra, Nguyễn Phúc L cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho người bị hại 3.000.000 đồng và được người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 128GB và 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Thùy L1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Thùy L1.
  • Chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE ALPHA, biển kiểm soát 36P5-3353, chủ sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1976, trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (là bố đẻ L). Việc L lấy chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi Cướp giật tài sản, ông T không biết nên cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • Chiếc ốp điện thoại Iphone 11 màu hồng cũ, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Thùy L1, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về phần dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị Thùy L1 đã nhận lại đầy đủ tài sản và tiền bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

* Tại bản Cáo trạng số 303/CT-VKS-TPTH ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Phúc L về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, không có thu nhập và tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà đại diện VKSND đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, tuổi đời còn trẻ, nhận thức còn hạn chế, bị cáo vẫn đang còn là học sinh và vẫn đang đi học, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng. Ngoài phạm tội lần này bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thành khẩn khai báo, xem xét về nhân thân, hoàn cảnh gia đình và độ tuổi đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý và không bổ sung ý kiến của bị cáo, người bào chữa.

- Bị cáo không bổ sung ý kiến của người bào chữa, đồng ý với toàn bộ quan điểm và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 03/8/2024, tại đoạn đường Đ thuộc địa phận phố C, phường T, thành phố T, trong lúc đứng nói chuyện với nhau, Nguyễn Phúc L dùng tay cướp giật chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy L1 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11 màu xanh, số máy MWJ02LL/A, số IMEI 356805110200591 đã qua sử dụng. Giá trị tài sản là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) rồi chạy bộ ra lấy xe mô tô bỏ chạy.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Phúc L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh xã hội và trật tự công cộng. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh.

Bị cáo nhận thức được việc “cướp giật tài sản” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là cướp giật tài sản để có điện thoại di động sử dụng nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo cùng gia đình đã thực hiện xong việc bồi thường đối với bị hại; bị cáo đầu thú, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngoài lần phạm tội này bị cáo đều chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chưa bị xử lý lần nào, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, không có thu nhập và tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 BLHS; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Phúc L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/11/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Phúc L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Phúc L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 68 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Phúc L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND, Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND, CA, TP. Thanh Hóa;
  • - Thi hành án HS, DS TP. Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; người bào chữa, Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại ;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger