TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày 09 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Vân
Ông Hoàng Văn Thường.
- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Minh U; sinh năm 1981, tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện tại: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; CCCD số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C cấp ngày 16/4/2021; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1931 (đã chết) và con bà Dương Thị T, sinh năm 1940 (đã chết); chồng: Trần Đình T1, sinh năm 1977 (đã chết) và 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến ngày 02/02/2024 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nông Thanh V; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
- Hoàng Văn A; sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 04/01/2024 tại nhà riêng của Nguyễn Thị Minh U, sinh năm 1981, thuộc thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, tổ công tác Công an huyện Q phát hiện Nguyễn Thị Minh U có hành vi đang bán số lô, số đề trái phép cho Nông Thanh V, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang với tổng số tiền 3.880.000 đồng, khi V đang cầm tiền trên tay chuẩn bị trả tiền mua số lô, số đề cho Nguyễn Thị Minh U thì bị tổ công tác Công an huyện Q phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 tờ giấy cứng U dùng để ghi số lô, số đề cho những người mua số lô, số đề. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Minh U khai nhận:
Do có nhu cầu bán số lô, số đề để lấy tiền nên khoảng 17 giờ 30 ngày 04/01/2024 Nguyễn Thị Minh U trực tiếp bán số, lô số đề trái phép cho Hoàng Văn A và Nông Thanh V với tổng số tiền 5.360.000 đồng. Việc mua bán số lô, số đề được thực hiện như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024 Hoàng Văn A cùng Nông Thanh V đến quán của U, Hoàng Văn A mua các số lô: 87 = 10 điểm, 99 = 10 điểm, 77 = 10 điểm, 23 = 10 điểm, 32 = 10 điểm, 88 = 10 điểm và một số đề 87 = 100.000 đồng, tổng số tiền bán lô, đề cho Hoàng Văn A là 1.480.000 đồng. U ghi các số lô, số đề vào tờ giấy cứng có kích thước 18 cm x 8,4 cm, một mặt có dòng chữ BL 320, A trả đủ tiền cho U và A dùng điện thoại của mình chụp ảnh lại tờ giấy mà U đã ghi các số lô, số đề cho A. Còn tờ giấy ghi các số lô, số đề do U giữ. Sau khi bán số lô, số đề cho A xong, U lại tiếp tục bán số lô, số đề cho Nông Thanh V với các số lô: 47 = 20 điểm, 74 = 20 điểm, 46 = 50 điểm, 64 = 50 điểm, 98 = 10 điểm, 89 = 10 điểm và hai số đề 87 = 100.000 đồng, 78 = 100.000 đồng với tổng số tiền 3.880.000 đồng, U ghi các số lô, số đề vào cùng với tờ giấy mà trước đó U đã ghi số lô, số đề cho A, khi V đang cầm tiền trên tay chuẩn bị trả tiền cho U thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q bắt quả tang.
Uyên và những người đánh số lô, số đề thống nhất với nhau về hình thức ghi số lô, số đề và trả thưởng như sau: Nguyễn Thị Minh U sử dụng kết quả xổ số miền B mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 hàng ngày để làm căn cứ xác định trúng thưởng. U nhận bán số lô, số đề đến 18 giờ hàng ngày, sau khi bán các số lô, số đề U giữ lại không chuyển cho người khác. Đánh đề căn cứ vào hai số cuối của giải đặc biệt, mức trúng thưởng (01 x 70), đánh 1.000 đồng, trúng thưởng sẽ được 70.000 đồng. Ba càng căn cứ 03 số cuối của giải đặc biệt, mức trúng thưởng (01 x 400) đánh 1.000 đồng, trúng thưởng sẽ được 400.000 đồng. Đối với lô thì sẽ lấy 02 số cuối của 27 giải để làm căn cứ trúng thưởng, mức trúng thưởng, có hai cách đánh lô là lô tiền và lô điểm: Nếu đánh lô tiền người chơi phải đánh từ 10.000 đồng trở lên mức trúng thưởng là (01 x 3,5), đánh 10.000 đồng, trúng thưởng sẽ được 35.000 đồng. Nếu đánh lô điểm, mỗi điểm tương ứng số tiền 23.000 đồng, mức trúng thưởng (01 x 80.000) trúng thưởng 01 điểm được 80.000 đồng. Các số lô tiền và lô điểm nếu trúng thưởng 2, 3 lần sẽ được trả 2, 3 lần trúng thưởng, nếu trúng thưởng 4 trở lên thì chỉ được tính 3 lần. Trường hợp người chơi không trúng thưởng sẽ mất tiền đã mua, nếu trúng U trả tiền cho người chơi.
Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 03/01/2024, Nguyễn Thị Minh U cũng đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề với một số người Uyên không biết tên tuổi địa chỉ. Uyên ghi các số lô, số đề vào một tờ giấy trắng hoặc ghi vào mặt trắng của vỏ bao thuốc lá thăng long, trong cả ba ngày này sau khi so sánh kết quả mở thưởng không có ai trúng thưởng nên U đã đốt hết các tờ giấy đã ghi số lô, số đề trong các ngày 01, 02, 03/01/2024. Cụ thể:
Ngày 01/01/2024 Nguyễn Thị Minh U bán 05 điểm lô với số tiền 115.000 đồng và 85.000 đồng tiền đề cho một người không biết tên, tuổi, địa chỉ, U đã nhận đủ số tiền 200.000 đồng nhưng không nhớ số lô, số đề đã bán.
Ngày 02/01/2024 Nguyễn Thị Minh U bán số đề cho một người không biết tên, tuổi, địa chỉ số tiền 200.000 đồng. U đã nhận đủ số tiền 200.000 đồng nhưng không nhớ số đề đã bán.
Ngày 03/01/2024 Nguyễn Thị Minh U đã bán các số đề gồm: 48, 84, 37 mỗi số 12.000 đồng, 73 với số tiền 24.000 đồng, “Đầu 8” giá 200.000 đồng, “Đít 8” với giá 100.000 đồng. U đã nhận đủ số tiền 360.000 đồng.
Đối với hành vi làm chủ lô, đề của Nguyễn Thị Minh U trong các ngày 01, 02, 03 tháng 01 năm 2024, không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên Ủy ban nhân dân huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Minh U với mức phạt 10.000.000 đồng, tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 760.000 đồng bị cáo có được do bán số lô, số đề. Bị cáo đã nộp phạt.
Đối với hành vi mua số lô, số đề ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Hoàng Văn A, Nông Thanh V, số tiền của từng người đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số lô, số đề với Nguyễn Thị Minh U đều dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Hoàng Văn A, Nông Thanh V.
Về vật chứng của vụ án, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, cơ quan công an đã thu giữ của Nguyễn Thị Minh U: 01 tờ giấy cứng có kích thước 18cm x 8,4cm, một mặt có chữ nước ngoài và dòng chữ BL 320 Nguyễn Thị Minh U dùng để ghi số lô, số đề cho những người mua số lô, số đề; số tiền 3.062.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, Reno7, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh.
Thu giữ của Nông Thanh V: Số tiền 3.980.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, màu đen.
Thu giữ của Hoàng Văn A: Số tiền 20.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu hồng.
- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Minh U thu giữ số tiền 9.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-QB ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang đã truy tố Nguyễn Thị Minh U về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh U phạm tội Đánh bạc; về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự; về vật chứng, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu số tiền 1.480.000 đồng bị cáo có được từ việc mua bán số lô, số đề với Hoàng Văn A, tịch thu số tiền Nông Thanh V sử dụng để mua số lô, số đề với U. Trả lại cho bị cáo U, Hoàng Văn A, Nông thanh V1 số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của U và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố, Tòa án đã triệu tập các anh Hoàng Văn A, Nông Thanh V với tư cách là người làm chứng trong vụ án. Tuy nhiên, tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của họ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì việc giải quyết vụ án liên quan đến tài sản đã thu giữ, quyền lợi cũng như nghĩa vụ họ phải thực hiện nên họ thuộc trường hợp là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận. Ngày 04/01/2024 bị cáo Nguyễn Thị Minh U đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, đề, được thua bằng tiền dựa trên kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày nhằm mục đích thu lợi bất chính. Tổng số tiền bị cáo bán số lô, số đề trái phép là 5.360.000 đồng. Do vậy hành vi trên của bị cáo đã phạm tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là một tệ nạn xã hội trực tiếp xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng trong xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng mà không phải lao động nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định hàng tháng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Đối với hành vi làm chủ lô, đề của Nguyễn Thị Minh U trong các ngày 01, 02, 03 tháng 01 năm 2024, không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Minh U với mức phạt 10.000.000 đồng, tịch thu số tiền bị cáo thu lợi bất chính 760.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[8] Đối với hành vi mua số lô, số đề ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Hoàng Văn A, Nông Thanh V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[9] Về vật chứng: - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, Reno7 loại điện thoại cảm ứng, màu vàng, lắp 02 thẻ sim có số thuê bao 0944212546 và số thuê bao 0965372646; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, lắp 01 sim có số thuê bao 0346112909; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, màu đen có số thuê bao 0912908078; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu hồng, có số thuê bao 0967233014 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo U, anh A, anh V không liên quan đến hành vi phạm tội. Quá trình điều tra cơ quan công an đã trả cho chủ sở hữu, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
- Số tiền 20.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn A, là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh A, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh A theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số tiền 3.980.000 đồng thu giữ của Nông Thanh V trong đó có 3.880.000 đồng là tiền Nông Thanh V dùng để mua số lô, số đề, đang cầm trên tay để trả tiền mua số lô, số đề cho U nhưng chưa kịp đưa cho U thì bị công an thu giữ nên cần tịch thu để nộp ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 100.000 đồng V không sử dụng để mua số lô, số đề với U, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh V theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số tiền 12.062.000 đồng thu giữ trên người và nơi ở của Nguyễn Thị Minh U, trong đó có 1.480.000 đồng là do Hoàng Văn A trả tiền mua số lô, số đề cho U nên cần tịch thu để nộp ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 10.582.000 đồng là tài sản thuộc quyền hợp pháp của bị cáo U, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo U theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh U phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh U 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh U cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về biện pháp tư pháp, vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị Minh U số tiền 1.480.000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Minh U số tiền 10.582.000 đồng.
- - Trả lại cho anh Nông Thanh V số tiền 100.000 đồng.
- - Trả lại cho anh Hoàng Văn A số tiền 20.000 đồng.
(Chi tiết các vật chứng thể hiện trong Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 28/5/2024).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh U phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b của Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị MInh Uyên phạm tội đánh bạc
