Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘ ĐỨC

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Quang Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Văn Minh
  • Bà Nguyễn Thị Thu Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần Thanh T – sinh ngày 06/7/1999 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 03/9/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn M (chết) và bà Trần Thị N; vợ, con: Chưa có

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 14/9/2023 bị Công an xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, T đã nộp phạt xong.

Nhân thân: Ngày 26/01/2024, bị cáo bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị áp dụng biện ngăn chặn tạm giam từ ngày 19/12/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Trung V, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nghiệp: Lái xe, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Trung M1, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1977. Nơi cư trú: 54 T, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 25/10/2023, Nguyễn Trần Thanh T sinh năm 1999, đang ở nhà tại thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi thì Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1999, trú tại thôn A, xã Đ điều khiển xe mô tô đến chở T đi đám cưới. Khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi đám cưới xong thì Nguyễn Trần Thanh T, Trần Trung V, sinh năm 1999, trú tại thôn C, Đ, huyện M; Trương Văn T2, sinh năm 1998, trú tại thôn E, xã Đ; Đ, sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã Đ cùng rủ nhau đi hát karaoke. Khi đi thì Trần Trung V uống say nên có người trong nhóm nói T điều khiển xe biển số 76G1 – 427.90 (xe này là của Trần Trung M1 sinh năm 2002, ở thôn C, Đ, M giao cho V quản lý, sử dụng) chở V đi đến quán K thuộc TDP1, thị trấn M, huyện M để hát. Đến nơi, T giữ chìa khóa xe của V rồi đi lên phòng hát karaoke, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trần Thanh T nảy sinh ý định lấy xe của Trần Trung V đem đi cầm cố, lấy tiền tiêu xài cá nhân nên T lặng lẽ cầm theo chìa khóa xe của Trần Trung V đi ra phía trước điều khiển xe mô tô 76G1 – 427.90 đến chỗ ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1977, trú tại số E T, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để cầm cố xe với số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), sau khi cầm xe anh V lấy tiền xong thì T đón xe taxi về nhà nghỉ H, ở đường T, thành phố Q để ngủ. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/10/2023, Trần Trung V điện thoại cho T nhiều cuộc điện thoại nhưng T không nghe máy, sau đó V tiếp tục gọi thì T nghe máy rồi nói với V là T mượn xe V ra thành phố Q có việc, sau đó V liên hệ rất nhiều lần với T nhưng T không nghe máy và lẫn tránh. Đến ngày 08/11/2023, Trần Trung V gửi đơn trình báo sự việc đến Công an huyện M.

Ngày 05/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M có kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS kết luận giá trị thiệt hại của tài sản là 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Cáo trạng số: 09/CT-VKS-MĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Thanh T về tội: Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thay đổi tội danh đối với bị cáo Nguyễn Trần Thanh T từ tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 sang tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thanh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, nhận được số tiền 2.000.000 đồng là tiền khắc phục hậu quả của bị cáo và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Đối với số tiền 6.000.000 đồng mà ông Nguyễn Ngọc Công n cầm cố xe từ bị cáo, gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông C, ông C không có yêu cầu gì nên không xem xét.

- Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, Raider, màu trắng xanh, biển số 76G1-427.90: Qua điều tra xác định xe này do Trần Trung M1 sinh năm 2002, ở thôn C, Đ, M đứng tên trên giấy đăng ký xe, tuy nhiên trong thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 01/2024 ông M1 đi lính nghĩa vụ quân sự nên giao xe này cho V quản lý, sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại xe cho ông V tiếp tục quản lý, sử dụng là đúng quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi tội danh đối với bị cáo từ tội “Trộm cắp tài sản” sang tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh, làm việc với những người này. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại các điều 292, 305 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu ở trên; lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 25/10/2023 tại quán K thuộc tổ dân phố A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo Nguyễn Trần Thanh T đã lợi dụng lòng tin khi anh Trần Trung V giao xe và chìa khóa xe cho bị cáo điều khiển, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu trắng xanh, biển số 76G1 – 427.90. Khi anh V cùng nhóm bạn hát karaoke thì bị cáo T lặng lẽ cầm theo chìa khóa xe của Trần Trung V đi ra phía trước điều khiển xe mô tô 76G1 – 427.90 đến chỗ ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1977, trú tại số E T, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cầm cố xe mô tô trên với số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) để tiêu xài cá nhân. Khi anh V gọi điện thì bị cáo nói dối, không nghe máy và lẫn tránh việc trả lại xe cho anh V. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[6] Hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự công cộng, trật tự xã hội, nếp sống văn hóa tại địa phương, nên cần phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

[7] Xét thấy bị cáo Nguyễn Trần Thanh T là người có nhân thân xấu, đã bị Cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính 02 lần về việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân thành người công dân có ích cho xã hội mà lại thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải đối với những lỗi lầm mà bị cáo đã gây ra. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, với mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, Raider, màu trắng xanh, biển số 76G1-427.90. Qua điều tra xác định xe này do Trần Trung M1 sinh năm 2002, ở thôn C, Đ, M đứng tên trên giấy đăng ký xe, tuy nhiên trong thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 01/2024 ông M1 đi lính nghĩa vụ quân sự nên giao xe này cho V quản lý, sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại xe cho ông V tiếp tục quản lý, sử dụng là đúng quy định.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về căn cứ truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức về hành vi phạm tội và tội danh đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với phần hình phạt của bị cáo T là nhẹ, chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thanh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Thanh T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
  4. Buộc bị cáo Nguyễn Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  6. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp.
  • - VKSND huyện Mộ Đức;
  • - CQCSĐT Công an huyện Mộ Đức;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Mộ Đức;
  • - Cơ quan THADS huyện Mộ Đức;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đàm Quang Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ T lạm dụng TNCĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger