Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HSST

Ngày: 10 – 5 – 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Nhưng
  2. Bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/XXHSST – HS, ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng C; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 02/10/1997, tại phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố F, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Nguyễn Đăng H, sinh năm: 1970; con bà: Đỗ Thị P, sinh năm: 1976; Vợ, con: Chưa có; tiền án, Tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Nguyễn Đăng C, bị tạm giữ kể từ ngày 01/02/2024, đến ngày 05/02/2024, bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho đến nay

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Đỗ Thị S – sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu phố A, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Kinh doanh ( Có mặt)

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • Ông Đỗ Công Q – sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu phố A, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị( Vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Văn Tân T – sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị ( Vắng mặt)
  • Ông Dương Trọng N – sinh năm 1973; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị ( Vắng mặt)

Người chứng kiến:

  • Ông Lê Mạnh C1 – sinh năm 1989; nơi cư trú: Phường P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, tại Km 558+300 đường Q thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện K phối hợp với Phòng C2, Công an tỉnh H phát hiện Dương Trọng N, sinh năm 1973, trú tại thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 74F-001.26, có biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra Tổ tuần tra Công an huyện K phối hợp với Phòng C2, Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đăng C tàng trữ 01 (Một) khối hình hộp, có kích thước 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có ký tự nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ liên kết với nhau, ở giường nằm sau cùng của tầng một dãy ghế bên lái và 04 (Bốn) khối hình hộp, đều có kích thước 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có ký tự nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ liên kết với nhau, ở trong ba lô đựng hành lý để ở giường nằm sau cùng của tầng một, dãy ghế bên lái. Nguyễn Đăng C khai nhận đó là pháo nổ, C mua của một người đàn ông tên H (Không rõ, địa chỉ cụ thể), ở thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vào sáng ngày 01/02/2024 về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2024, nhưng chưa đưa về nhà thì bị phát hiện, thu giữ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đăng C khai nhận: Nguyễn Đăng C hợp đồng làm phụ xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X, có trụ sở tại số C, đường L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, chở khách từ thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị ra tỉnh Thái Nguyên và ngược lại. Khoảng 08 giờ ngày 01/02/2024, anh Dương Trọng N điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 74F-001.26 cùng với Nguyễn Đăng C đến rửa xe tại cửa hàng rửa xe ô tô, ở thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Sau khi đưa xe ô tô đến tiệm rửa xe, anh N đi về còn C ở lại trông giữ xe. Khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, trong quá trình đang ở tiệm rửa xe thì có một người đàn ông giới thiệu tên là H (Không rõ địa chỉ cụ thể) điều khiển xe mô tô đến gặp C và hỏi có mua pháo không, C trả lời “Anh có thì bán lại cho em mấy khối, em về tất niên cuối năm” rồi đặt mua 05 (Năm) hộp pháo loại 36 quả, người đàn ông tên H thống nhất bán cho C mỗi hộp pháo với giá 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), C đồng ý mua. Sau đó người đàn ông tên H điều khiển xe mô tô đi khoảng 15 phút, rồi quay lại đưa cho C một túi ni lông màu đen bên trong chứa 05 (Năm) hộp pháo, C lấy 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thanh toán cho người đàn ông rồi đưa túi ni lông màu đen chứa pháo bên trong lên xe ô tô 74F-001.26 đi ra phía sau cùng bỏ vào chiếc ba lô cá nhân của mình nhưng không vừa, nên C lấy 04 (Bốn) hộp pháo bỏ vào trong chiếc ba lô cá nhân của mình còn 01 (Một) hộp C bỏ trong chiếc túi ni lông màu đen cùng với chiếc ba lô cất dấu ở giường nằm sau cùng của tầng một, dãy ghế bên lái với ý định khi xe ô tô chạy về đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị C sẽ lấy pháo đưa về nhà cất giấu. Tuy nhiên, khi chạy về đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, C quên không lấy pháo đưa về nhà cất dấu nên tiếp tục để ở trên xe ô tô đi ra tỉnh Thái Nguyên để trả khách. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, khi ra đến Km 558+300 đường Q thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện K phối hợp với Phòng C2, Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang và tiến hành tạm giữ Nguyễn Đăng C để điều tra theo quy định.

Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã niêm phong, trưng cầu giám định 05 (Năm) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài thu của Nguyễn Đăng C.

Tại bản kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 05 (Năm) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau thành một khối, gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có tổng khối lượng là 6,8 kg (Sáu phẩy tám kilôgam).

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm:

+ Vật chứng thu giữ, đã xử lý:

  • 01 (Một) xe ô tô, biển kiểm soát 74F-001.26, thu của anh Dương Trọng N, nay đã trả lại cho anh Dương Trọng N.
  • 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12, màu xanh, số IMEI 355211926466834, bên trong gắn sim số 0789267474, máy đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Đăng C, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Đăng C.

+ Vật chứng thu giữ, chưa xử lý:

  • 03 (Ba) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) túi ba lô màu đen, có lô gô của Bệnh viện T3, bên trong chứa 05 (Năm) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 ống hình trụ tròn liên kết lại với nhau, có khối lượng 6,65 kg (Sáu phẩy sáu năm ki lô gam), sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại.

Các vật chứng nói trên hiện chưa xử lý nói trên, hiện nay đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT- VKSKA ngày 02 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng C về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 32; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đăng C từ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đến 80.000.000đ (T1 mươi triệu đồng)

Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tich thu tiêu huỷ 6,65 kg (Sáu phẩy sáu năm ki lô gam) là pháo nổ; 03 (Ba) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) túi ba lô màu đen, có lô gô của Bệnh viện T3.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 - 12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Đăng C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xét thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Vậy mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, tại Km 558+300 đường Q thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện K phối hợp với Phòng C2, Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đăng C tàng trữ 05 (Năm) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15cmx15cmx12,2cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 ống hình trụ tròn liên kết với nhau, là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, với tổng khối lượng 6,8kg trên xe ô tô khách biển kiểm soát 74F-001.26, do anh Dương Trọng N, sinh năm 1973, trú tại thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị điều khiển. Nguyễn Đăng C khai nhận số pháo nổ bị thu giữ, C mua của một người đàn ông tên H (Không rõ địa chỉ cụ thể), ở thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị với giá 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2024.

Hành vi của Nguyễn Đăng C đủ yếu tố cấu thành tội“ Tàng trử hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này chỉ có một mình Nguyễn Đăng C thực hiện, không có đồng phạm.

[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Mặc dù biết được chủ trương của Nhà nước về việc cấm các hành vi “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ” nhưng coi thường pháp luật nên Nguyễn Đăng C đã móc nối với các phần tử xấu để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đăng C được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, HĐXX xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Đối với các vấn đề liên quan:

Trong vụ án này: Đối với người đàn ông tên H, ở thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị mà Nguyễn Đăng C khai nhận là người đã bán pháo nổ cho C. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của đối tượng nên chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan điều tra công an huyện K tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với anh Dương Trọng N người điều khiển xe ô tô và anh Đỗ Công Q, anh Nguyễn Văn T2 đi cùng xe ô tô với bị cáo Nguyễn Đăng C. Quá trình điều tra xác định việc C tàng trữ pháo nổ trên xe ô tô 74F-001.26, anh N, anh Q, anh S1 và anh T2 không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X chủ sỡ hữu xe ô tô 74F-001.26 có Nguyễn Đăng C là nhân viên của công ty. Quá trình điều tra xác định khi C tàng trữ pháo nổ trên xe ô tô, Lãnh đạo Công ty không biết nên không xem xét xử lý.

[5]. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ trả lại các vật chứng gồm:

  • 01 (Một) xe ô tô, biển kiểm soát 74F-001.26, thu của anh Dương Trọng N, nay đã trả lại cho anh Dương Trọng N.
  • 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12, màu xanh, số IMEI 355211926466834, bên trong gắn sim số 0789267474, máy đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Đăng C, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Đăng C, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Hiện nay còn lại các vật chứng sau:

  • 03 (Ba) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) túi ba lô màu đen, có lô gô của Bệnh viện T3, bên trong chứa 05 (Năm) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15cmx15cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 ống hình trụ tròn liên kết lại với nhau, có khối lượng 6,65 kg (Sáu phẩy sáu năm ki lô gam) là pháo nổ, sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại. Hội đồng xét xử xét thấy số pháo nói trên là hành cấm; 03 (Ba) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) túi ba lô màu đen, có lô gô của Bệnh viện T3 là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo và hiện không còn giá trị sử dụng, vì vậy tịch thu tiêu huỷ số pháo và các vật chứng nói trên, theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 - 12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đăng C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”

Xử phạt Nguyễn Đăng C 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

Về vật chứng vụ án: Tich thu tiêu huỷ 6,65 kg (Sáu phẩy sáu năm ki lô gam) là pháo nổ; 03 (Ba) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) túi ba lô màu đen, có lô gô của Bệnh viện T3.

Về án phí: Xử buộc Nguyễn Đăng C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC10;
  • - Sở Tư pháp
  • - CA huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ hàng cấm (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 15/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng C phạm tôi "tàng trữ hàng cấm"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger