Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÙ CANG CHẢI

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 29 - 5 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý A Hờ

Các Hội thẩm nhân dân: bà Sùng Thị Mỷ và bà Lò Thị Mỹ Lệ

- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải.

- Đại diện VKSND huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Giàng A S - Kiêm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Vàng Thị B, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1961, tại xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản Pú Nhu H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Sông S1 và bà Giàng Thị V (Đều đã chết); có chồng thứ nhất là Sùng Cáng D (Đã chết), chồng thứ hai là Lý Dủ S2, sinh năm 1951; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1987; Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Cứ Thị V1, sinh năm 1999; trú tại: bản T, xã H, huyện M, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

+ Anh Lý A C, sinh năm 2003; trú tại: bản M, xã D, huyện M, tỉnh Yên Bái. Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A D2; trú tại tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 01/01/2024 Vàng Thị B đi từ nhà ở của mình đến đầu bản Pú Nhu H, xã L, huyện M mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết một lượng ma túy gồm cả Heroine và ma túy tổng hợp giá 800.000đ với mục đích để bán kiến lời.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/01/2024 thì Bầu bán cho Lý A C 01 gói Heroine với giá 20.000đ, đến khoản 19 giờ 00 phút thì B tiếp tục bán cho Cứ Thị Vàng 01 gói Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp với giá 100.000đ.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 thì tổ công tác Công an huyện M đi tuần tra tại bản Pú Nhu Háng Sung thì thấy tại nhà của B tụ tập đông người có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Vàng Thị B đã tự giác giao nộp: 01 gói nilon màu hồng, buộc thắt nút một đầu, bên trong có 06 viên ma túy màu hồng và 02 mảnh viên nén màu hồng; 01 gói nilon màu xanh, buộc thắt nút một đầu, bên trong có chất bột nén màu trắng; 01 gói nilon màu hồng, được hàm kím một đầu, bên trong có chất bột nén màu trắng; 01 gói nilon màu hồng, được hàm kím một đầu, bên trong có chất bột nén màu trắng và 01 mảnh viên nén màu hồng; 190.000đ tiền có chữ Ngân hàng N. Vàng Thị B khai nhận số ma túy bị Công an thu giữ là của bản thân cất giấu để bán kiến lời. Tiến hành kiểm tra đối với Lý A C và Cứ Thị V1 là những người có mặt tại nhà B nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Vàng Thị B tại bản Pú Nhu H, xã L thì thu giữ 12.086.000₫ tiền Ngân hàng N.

Tại bản Kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

  • - 0,2 gam trích từ 0,67 gam các viên nén màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng buộc thắt nút một đầu thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
  • - 0,08 gam trích từ 0,34 gam chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu xanh được buộc thắt một nút thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
  • - 0,08 gam trích từ 0,17 gam chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu hồng được hàn kín một đầu thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
  • - 0,1 gam chất bột nên màu trắng trong gói nilon màu hồng được hàn kín một đầu thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B gửi giám định là ma túy; loại Heroine
  • - 0,03 gam mảnh viên nén màu hồng được hàn kín một đầu thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

2

Tại Kết luận giám định số: 29/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Số tiền 190.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B và số tiền 12.086.000 đồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Vàng Thị B gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng N phát hành.

Bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS-MCC ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Vàng Thị Bầu về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị B từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 120.000₫ do bị cáo bán ma túy mà có; Trả lại số tiền 12.156.000đ và miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã tuy tố.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải đã truy tố, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện sinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo đã tự khai ra hành vi mua bán trước đó với cơ quan Điều tra; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng Thị B với mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; trả lại vật chứng tài sản hợp pháp của bị cáo cho bị cáo và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/01/2024 tại nơi ở của Vàng Thị B thuộc bản Pú Nhu H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái Vàng Thị B đã bán 01 gói Heroine cho Lý A C với giá 20.000đ, đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày thì B lại bán 01 gói Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp cho Cứ Thị V1 với giá 100.000đ. Ngoài ra Vàng Thị B còn cất giấu 0,61 gam Heroine và 0,7 gam Methamphetamine với mục đích để bán kiếm lời. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Vàng Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi bất chính nên thực hiện hành vi phạm tội; hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không; tình tiết giảm nhẹ: Khi bị bắt quả tang, bị cáo đã tự giác khai nhận hành vi mua bán ma túy trước đó với Lý A C và Cứ Thị V1; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy cần áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, hiểu biết xã hội còn nhiều hạn chế; chưa có tiền án, tiền sự. Như vậy bị cáo là người có nhận thân tốt.

[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Xét bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:

- Vật chứng là: 0,35g ma túy, loại Heroine và 0,47g ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần được tịch thu tiêu hủy.

- Vật chứng là: Tổng số tiền 12.276.000đ thu giữ của Vàng Thị B. Có 12.156.000₫ là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần được trả lại cho bị cáo; Còn lại 120.000đ là tiền bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8] Các vấn đề liên quan đến vụ án:

4

- Đối với số ma túy bị cáo B đã sử dụng và số ma túy Bầu bán cho C và V1 sử dụng, đã sử dụng không xác định được khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B, do B đã bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Lý A C, C đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định só 07/QĐ-TA ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, do đó không đề cập đến vấn đề xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Cứ Thị V2, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện M, tỉnh Yên Bái để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt tiền về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ và thông báo cho chính quyền địa phương biết, quản lý là đúng quy định và phù hợp.

- Đối với người bán ma túy cho Vàng Thị B: Quá trình điều tra bị cáo không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.

[9] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị B 07 (Bảy) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,35 (Không phẩy ba lăm) gam ma túy, loại Heroine và 0,47 (Không phẩy bốn mươi bẩy) gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định được cho vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B - SN: 1961 tại bản Pú Nhu H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 02/01/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Hà Văn L, Nguyễn Đức P, Hoàng Hữu Quốc T, Đoàn Xuân T1, Nguyễn Thị D1 và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y;

+ 03 (Ba) vỏ phong bì, các mảnh nilon gói sau khi giám định.

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước của bị cáo Vàng Thị B số tiền 120.000₫ (Một trăm hai mươi nghìn đồng);

- Trả lại cho bị cáo Vàng Thị B Số tiền 12.156.000₫ (Mười hai triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Toàn bộ số tiền trên: Có 190.000đ được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K - Công an tỉnh Y phát hành; Mặt trước phong bì có ghi: Tiền thu giữ khi bắt quả tang Vàng Thị B - SN: 1961 (sau khi giám định). 12.086.000₫ được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K - Công an tỉnh Y phát hành; Mặt trước phong bì có ghi: Tiền thu giữ khi khám xét đối với Vàng Thị B - SN: 1961 (sau khi giám định). Mặt sau các phong bì các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Hoàng Hữu Quốc T, Đồng Thu H và các hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y tại các mép dán giáp lai.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị B.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Vàng Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - tòa
  • - VKSND Yên Bái;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái
  • - VKSND huyện MCC(2);
  • - Công an huyện MCC (2);
  • - Chi cục THADS huyện MCC;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: TA, tiểu HS; HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên

Lý A Hờ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/01/2024 tại nơi ở của Vàng Thị Bầu thuộc bản Pú Nhu Háng Sung, xã La Pán Tẩn, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Vàng Thị Bầu đã bán 01 gói Heroine cho Lý A Chú với giá 20.000đ, đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày thì Bầu lại bán 01 gói Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp cho Cứ Thị Vàng với giá 100.000đ. Ngoài ra Vàng Thị Bầu còn cất giấu 0,61 gam Heroine và 0,7 gam Methamphetamine với mục đích để bán kiếm lời
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger