Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Lộc
  2. Bà Mai Thị Tuyết Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh ngày: 15/02/1995; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 20, ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P, sinh năm: 1964 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1963; A, chị, em: có 05 người (lớn nhất sinh năm: 1984, nhỏ nhất sinh năm: 1998); Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 16/4/2022 bị Công an xã A, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Ngày 01/6/2015 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1

Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1984. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ B, ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 25/01/2024, Lê Văn M đang ở nhà thuộc Tổ B, ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên M điện thoại cho người thanh niên tên Năm T (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy và Năm T đồng ý. Sau đó M điều khiển xe máy loại Sirius, biển số: 54Z9 - 3206 đi từ nhà qua khu vực gần khu công nghiệp L thuộc xã L, huyện C, tỉnh Long An gặp người thanh niên tên Năm T để mua ma túy với số tiền là 1.600.000 đồng, được 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine. Sau đó M cất gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hòa Bình và cất giấu vào túi quần bên trái phía trước, đồng thời điều khiển xe máy về lại nhà. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi M lưu thông đến khu vực bến phà D - H thuộc Tổ A, ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị Công an huyện C kiểm tra bắt quả tang Lê Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine và tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng có liên quan.

Kết luận giám định số: 1905/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5142g (hai phẩy năm một bốn hai gam), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng vụ án gồm:

01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Q, bên trong có 01 gói nylon màu đen chứa tinh thể không màu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,5142 gam, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 2,4142 gam; 01 quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hòa Bình, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo, màu xanh tím, bị bể màn hình, loại 1906, đã qua sử dụng.

Riêng 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - trắng, biển số: 54Z9 - 3206 đã qua sử dụng, là của chị Lê Thị Hồng H, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: Tổ 20 ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (chị ruột của M) mua lại của người khác không làm thủ tục sang tên. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Trương Văn T1 (sinh năm: 1954, hộ khẩu thường trú: Tổ D, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu và anh T1 đã bán cho người khác, không làm thủ tục sang tên. Ngày 25/01/2024, M sử dụng xe trên để đi mua ma túy thì chị H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C

2

đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe máy trên cho chị Lê Thị Hồng H.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS-H.CG ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu và kết luận: Giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; và đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như sau: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo thuộc trường hợp qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Từ những phân tích nêu trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Văn M mức hình phạt tù 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Q, bên trong có 01 gói nylon màu đen chứa tinh thể không màu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,5142 gam, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 2,4142 gam; 01 quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hòa Bình, đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo, màu xanh tím, bị bể màn hình, loại 1906, đã qua sử dụng.

Bị cáo Lê Văn M thừa nhận hành vi như cáo trạng là đúng, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được cũng như diễn biến tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 25/01/2024, tại khu vực bến phà D - H thuộc Tổ A, ấp D, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Văn M đã bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ở thể rắn, có khối lượng 2,5142 gam, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng. Tại bản kết luận giám định số 1905/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5142g (hai phẩy năm một bốn hai gam), loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo M có 01 tiền sự là ngày 16/4/2022 bị Công an xã A, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; là người có nhân thân không tốt: Ngày 01/6/2015 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; nhưng bị cáo M không lấy đó làm bài học cho bản thân, tích cực lao động, rèn luyện phấn đấu trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo M lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo M vẫn coi thường kỷ cương, pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo M một phần hình phạt mà lẻ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về các tình tiết khác của vụ án: Đối với người thanh niên tên thường gọi là Năm Tài bán ma túy cho bị cáo do không xác định được nhân thân, lai lịch

4

nên không triệu tập tham gia tố tụng, đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.

    Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Q, bên trong có 01 (một) gói nylon màu đen chứa tin thể không màu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,5142 gam, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại 2,4142 gam; 01 (một) quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hòa Bình, đã qua sử dụng.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo, màu xanh tím, bị bể màn hình, loại 1906, đã qua sử dụng.

    Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS-H.CG ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.

  4. Về án phí:
  5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

5

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an huyện Cần Giờ;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Cần Giờ;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giờ;
  • - UBND xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Lưu văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Phúc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger