|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lèo Văn Hưởng.
- Bà Hà Thị Thanh Liêm.
- Thư ký Tòa án: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê C (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/4/1983, tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê T, sinh năm 1941 và bà Trần Thị T1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Lê Thị D, sinh năm 1984 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012, bị TAND huyện Cưm’Gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt từ ngày 18 tháng 7 năm 2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 25 phút ngày 18/7/2024, tổ công tác Công an xã C, thành phố S phối hợp với Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S phát hiện một đối tượng nam giới đi bộ ven đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra nam thanh niên khai tên Lê C, sinh năm 1983, cư trú tại thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Chinh tự giác lấy trong lòng bàn tay trái đang cầm ra 01 gói nilon màu trắng bên trong có 10 viên nén hình tròn màu hồng (C khai là ma túy hồng phiến cất giấu để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê C, thu giữ vật chứng nghi là chất ma túy, niêm phong theo quy định.
Ngày 18/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định vật chứng thu giữ của Lê C khi bắt quả tang, kết quả: 10 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 1,04 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,52 gam (ký hiệu L) niêm phong làm mẫu gửi giám định, còn 05 viên có khối lượng 0,52 gam (ký hiệu C) làm mẫu lưu kho.
Kết luận giám định số 1482/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,04 gam, loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê C khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2023. Đêm ngày 16/7/2024, C đón xe ô tô khách từ nhà ở thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An đến thành phố S, tỉnh Sơn La để tìm việc làm thuê theo ngày. Sáng ngày 17/7/2024, khi đến khu vực tổ F, phường C, thành phố S, C xuống xe, sau đó đi bộ lang thang quanh khu vực này. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/7/2024, C đi bộ từ khu vực chợ tổ F, phường C, thành phố S đến khu vực ngã ba M cũ thuộc tổ F, phường C, thành phố S để ăn cơm, uống rượu ở một quán ven đường. Sau khi ăn xong, C đi bộ một mình về hướng trung tâm thành phố S để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi qua khu vực cây xăng thuộc tổ F, phường C, thành phố S, C gặp một một người nam giới không quen biết dáng người gầy, mặc áo đen đang đứng ven đường. Qua trao đổi, C mua được của người nam giới này 01 gói nilon màu trắng bên trong có 10 viên hồng phiến với số tiền 500.000 đồng. Sau đó C cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về hướng ngã ba M cũ tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác Công an xã C, thành phố S phối hợp với Công an phường C, thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định.
Về nguồn gốc 1,04 gam Methamphetamine, bị cáo Lê C khai mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 18/7/2024 tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để mở rộng điều tra, xác minh.
Tại bản cáo trạng số: 494/CT-VKSTP ngày 22/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lê C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Lê C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê C từ 24 tháng đến 28 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 (Một) chiếc phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu C = 0,52 gam" được niêm phong trong 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 0075118.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê C nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn trùng khớp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và trùng hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Lê C là đối tượng sử dụng chất ma túy, thường tìm mua ma túy của những đối tượng không quen biết để sử dụng. Ngày 18/7/2024, C đã mua được 01 gói ma túy với số tiền 500.000 đồng của một người nam giới không rõ danh tính tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã C, thành phố S phối hợp với Công an phường C, thành phố S phát hiện, bắt quả tang thu giữ 1,04 gam Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo Lê C giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- - Lời khai nhận tội của bị cáo;
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 25 phút ngày 18/7/2024 tại tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lê C cùng vật chứng thu giữ trong vụ án.
- - Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Biên bản bóc mở niêm phong cân tịnh vật chứng; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 1482/KL - KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Quàng Văn H, sinh năm 1987, địa chỉ: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Lê C, phù hợp với kết quả điều tra.
Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lê C với tổng khối lượng 1,04 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Lê C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, khối lượng ma túy bị thu giữ trong vụ án là 1,04 gam Methamphetamine có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo có bố đẻ bị cáo là ông Lê T được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3, huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhì, huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3, huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 3; mẹ đẻ của bị cáo là bà Trần Thị T1 được nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến chống Mỹ do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Quá trình điều tra Lê C khai nhận mua 1,04 gam Methamphetamine của một người nam giới không rõ danh tính với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Ngoài lời khai của C ra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, làm rõ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để tiếp tục điều tra xác minh mở rộng vụ án.
[8] Vật chứng vụ án: Đối với: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, mặt trước ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Lê C, tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 18/7/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu C = 0,52 gam” là số ma túy còn lại sau khi gửi giám định), là vật cấm tàng trữ, lưu hành, và vật không có giá trị nên cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê C 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1 Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: L, tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 18/7/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu C = 0,52 gam”. Mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 0075118 có ghi: “Cơ quan CSĐT-CATP Sơn La hồi 22 giờ 20 phút ngày 18/7/2024 tại CATP Sơn La” tại phần giáp lai của giấy dán niêm phong và phong bì có dòng chữ ký và dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt và 01 dấu tròn đỏ Cơ quan CSĐT Công an thành phố S. Tại hai đầu phong bì được dán kín bằng băng dính trong suốt.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lê C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê C bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
