|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày 05/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ksor H’Đuen
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Đức Thại
+ Bà Phan Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa tham gia phiên toà: Ông Nay Ha – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Rcom Y, sinh năm1993, tại A, Gia Lai.
Nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai; Nghề Nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; C là Kpă N; Mẹ là Reom H' Đin. Vợ là Phạm Hồng H, sinh năm: 1996. Hiện cư trú tại Tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai. Bị caó có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án. Ngày 13/7/2021, Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 18/2021/HSST. Chấp hành án tại Trại giam G. Ngày 01/9/2022, được đặc xá trở về địa phương sinh sống.
Nhân thân: Ngày 21/5/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 05 năm tù về tội cố ý gây thương tích đã chấp hành xong hình phạt, nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 03/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, tại nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
2. Tạ Minh T, tên gọi khác: Chó. Sinh năm: 1990, tại A, Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ D, phường Đ, thị xã A, Gia Lai; Nghề Nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha là Tạ Văn T1 (đã chết); mẹ là Nguyễn Thị Thu M; Nghề nghiệp: Thợ may. Hiện cư trú tại Tổ D, phường Đ, thị xã A, Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 01/7/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Ayun pa xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, ngày 26/01/2019 chấp hành án xong, nay đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, tại nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
3. Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1993, tại A, Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ G, phường Đ, thị xã A, Gia Lai; Nghề Nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha là Nguyễn Đắc L1; mẹ là Lê Thị Thanh N1. Hiện cư trú tại Tổ G, phường Đ, thị xã A, Gia Lai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay, tại nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nay Sĩ, sinh năm 1995. Vắng mặt
Địa chỉ: G H, tổ C, p. S, thị xã A, tỉnh Gia Lai - Trần Công D, sinh năm 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: 173 Lê Hồng P, tổ D, p. Đ, thị xã A, t. G. - R’Ô Trương, sinh năm 2000
Địa chỉ: tổ F, p. S, thị xã A,tỉnh Gia Lai. Vắng mặt - Ksor C1, sinh năm 1998
Địa chỉ: P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt. - Siu Rcom K, sinh năm 2001
Địa chỉ: P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt - Phạm Hồng H, sinh năm 1996
Địa chỉ: tổ D, p. Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người phiên dịch: Ông Siu H1
Địa chỉ: tổ E, p. H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rcom YaKơ từng làm nghề phụ xe khách của nhà xe V theo tuyến từ thị xã A đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Qúa trình phụ xe, YaKơ biết một người phụ nữ tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) ở khu vực bến xe M thuộc quận B, thành phố Hồ Chí Minh có bán ma túy đá. Khoảng giữa tháng 12/2023, YaKơ mua ma túy của T2 với số tiền 1.000.000 đồng rồi mang về nhà của mình tại tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai để sử dụng và có người hỏi sẽ bán kiếm lời.
Khoảng đầu giờ chiều ngày 18/12/2023, Nguyễn Thanh L liên hệ với YaKơ qua ứng dụng Messenger (YaKơ và L là bạn bè quen biết nhau, L biết YaKơ có ma túy đá) để hỏi mua ma tuý cho Nay S, YaKơ đồng ý bán. Sau đó L nhắn tin qua M1 về địa điểm giao ma túy, số điện thoại và hình ảnh của S cho YaKơ để biết rõ người mua ma túy là S. Vì không có xe để đi giao ma túy cho S nên YaKơ nhắn tin nhờ L nói với S đến nhà YaKơ tại tổ A, phường Đ, thị xã A để thực hiện việc mua bán và L đồng ý. Sau đó L nhắn tin cho S, S đi đến nhà YaKơ mua 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho S, YaKơ nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Thực hiện ý định chiều ngày 18/12/2023, YaKơ đi xe khách đến khu vực bến xe M, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục mua ma túy của T2 với số tiền 2.700.000 đồng. Sau đó mang về nhà của mình ở tổ A, phường Đ, thị xã A rồi chia ma túy bỏ vào nhiều gói nilon nhỏ (loại túi Zip) để bán.
Rcom YaKơ và Tạ Minh T có mối quan hệ quen biết nhau, T biết YaKơ có ma túy. Vào ngày 21/12/2023, T đến nhà YaKơ ở tổ A, phường Đ, thị xã A hỏi và mua 01 gói ma túy của YaKơ với số tiền 400.000 đồng để sử dụng, ma túy bán cho T được Y để trong gói thuốc lá (loại thuốc lá Con Ó). Tại đây Y và T có trao đổi với nhau khi có khách liên hệ mua ma tuý thì YaKơ sẽ gửi số điện thoại qua cho T để T liên lạc giao ma túy cho khách. Đối với gói ma túy T mua được của YaKơ thì T đã sử dụng hết một mình.
Trong ngày 24/12/2023, T nhiều lần giao ma túy của YaKơ bán cho khách, cụ thể:
- Khoảng 16giờ30 ngày 24/12/2023, Ksor C1 sử dụng số điện thoại 0377.474.xxx liên hệ qua số điện thoại 0973.326.xxx của YaKơ để hỏi mua ma tuý với số tiền 500.000 đồng. YaKơ đồng ý và hẹn C1 đến nhà của mình tại tổ A, phường Đ, thị xã A. Khi C1 đến trước nhà, YaKơ đưa 01 (một) gói ma tuý cho T để ra ngoài giao ma túy cho C1 và lấy số tiền 500.000 đồng đưa lại cho YaKo.
- Đến tối ngày 24/12/2023 tại nhà YaKơ, YaKơ đưa cho T 08 (tám) gói ma tuý, mỗi gói có giá 400.000 đồng để khi có người mua thì T giao bán ma túy cho YaKo. Vào khoảng 20giờ00 cùng ngày, Trần Công D sử dụng tài khoản Facebook tên “Danh T3” liên hệ đến tài khoản Facebook tên “Út Cơ” của YaKơ hỏi mua ma tuý với số tiền 300.000 đồng, YaKơ nói D liên hệ qua tài khoản Facebook tên “Mai Anh T4” với T4 để mua ma tuý. Sau đó D liên hệ và mua từ T4 01 (một) gói ma tuý với số tiền 300.000 đồng tại đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Khoảng 22giờ00 cùng ngày, Siu Reom K liên hệ YaKơ để hỏi mua ma tuý. YaKơ gửi số điện thoại 0868.638.xxx của T4 cho K và nói liên hệ với T4 để mua ma tuý. Sau đó K liên hệ và mua từ T4 01 (một) gói ma tuý với số tiền 380.000 đồng tại khu vực đường L, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Khoảng hơn 22giờ00 cùng ngày, Ksor C1 tiếp tục liên hệ YaKơ qua số điện thoại 0973.326.xxx của YaKơ để hỏi mua ma tuý với số tiền 500.000 đồng. Tương tự như D và K, YaKơ nói Chơi liên hệ với T4 để mua ma tuý. Sau đó C1 liên hệ và mua từ T4 (01) một gói ma tuý với số tiền 500.000 đồng. T4 bán ma tuý cho K và C1 cùng một thời gian, địa điểm tại khu vực đường L, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Khoảng 23 giờ ngày 24/12/2023, R' Ô Trương sử dụng ứng dụng Messenger bằng tài khoản tên “Phạm Trường” của T5 trực tiếp liên hệ với tài khoản tên “Mai Anh T4” của T4 để hỏi mua ma tuý với số tiền 400.000 đồng. T4 hẹn T5 đến nhà thờ (Giáo xứ P1) thuộc phường Đ, thị xã A và thực hiện bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 400.000 đồng cho T5.
Ngoài ra, T4 tự lấy một gói ma tuý để sử dụng một mình tại bụi cây gần khu vực mương nước giáp đường L, thuộc phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Đến khoảng 06giờ00 sáng ngày 25/12/2023, T4 đi đến nhà YaKơ để trả 03 (ba) gói ma túy còn lại và tiền bán ma túy giúp YaKơ 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó YaKơ vào phòng ngủ thứ hai (tính thứ tự từ trước ra sau nhà), tại đây YaKơ lấy một gói ma tuý, một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. YaKo dùng kéo cắt gói ma túy đổ một phần ma túy vào ống thủy tinh, phần ma túy còn dư YaKơ dùng bật lửa gas hàn kín lại và cất giấu dưới hộp giấy. YaKơ dùng bật lửa gas nấu ma túy sau đó rủ T4 cùng sử dụng nhưng T4 từ chối và đi ngủ nên YaKơ tự sử dụng một mình. Lúc này YaKơ nhắn tin rủ Nguyễn Thanh L đến để sử dụng ma túy, sau đó khoảng 10giờ00 cùng ngày thì L đến. Khi vào trong phòng, Lâm thấy và cầm bộ dụng cụ, bật lửa đốt ma túy có sẵn tự hút rồi đưa lại bộ dụng cụ cho YaKơ tự hút, cứ như vậy L và YaKơ sử dụng thêm hai vòng thì nghỉ. Khoảng 12giờ00 cùng ngày, YaKơ có công việc đi ra ngoài, L vẫn ở trong phòng cùng T4. Sau khi YaKơ về có gọi T4 dậy, lúc này T4 cầm bộ dụng cụ có sẵn ma túy còn dư lúc trước và bật lửa đốt ma túy tự hút rồi đưa bộ dụng cụ cho Y tự hút, sau đó YaKơ đưa qua cho L hút, cứ như vậy T4, YaKơ và L sử dụng thêm một vòng thì nghỉ.
Vào lúc 14 giờ 20 phút cùng ngày, Công an thị xã A tiến hành kiểm tra căn nhà của Rcom Y tại tổ A, phường Đ, A, Gia Lai. Tại phòng ngủ thứ hai phát hiện YaKơ, T4 và L ở trong phòng có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với YaKơ, T4 và L, kết quả xét nghiệm tất cả đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine (ma túy đá). Đồng thời tiến hành thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có đặc điểm: thân bình là vỏ chai nhựa, nắp chai màu xanh có đục 02 lỗ, trong đó một lỗ gắn 01 đoạn ống bằng nhựa, một lỗ gắn 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu phình to bị gãy thành 02 đoạn, trong đoạn ống thủy tinh có đầu phình to bám dính chất rắn màu nâu, vàng; 01 (một) gói nilon bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) bật lửa ga, trên thân bật lửa có ký hiệu “HOA VIỆT” và 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng.
Tiến hành kiểm tra trên người YaKơ phát hiện, thu giữ trong túi quần jeans phía trước bên trái 03 (ba) túi nilon, loại túi Zip. Cụ thể: Túi nilon Zip thứ nhất có chứa chất dạng tinh thể màu trắng; Túi nilon Zip thứ hai có chứa 08 (tám) gói nilon, đều chứa chất dạng tinh thể màu trắng; Túi nilon Zip thứ ba có chứa 19 (mười chín) gói nilon đều chứa chất dạng tinh thể màu trắng (Yakơ khai nhận tất cả các chất dạng tinh thể màu trắng nêu trên đều là ma túy đá). Khám xét trên người của T4 và L không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành tạm giữ: 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: TA-1192 của YaKơ; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1 màu xanh, kiểu máy RMX1811 của T4; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max của L.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của YaKơ tại tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai phát hiện thu giữ: 01 (một) vật nghi là súng bằng kim loại dài 22cm, trên thân có chữ, số: “N°871072 MI9IIAI U.8.ARMY”, báng có kích thước (10,5x5)cm, hai bên báng có ốp nhựa màu nâu, bên trong báng có 01 vật bằng kim loại màu đen, kích thước (11x3,3)cm, dưới đáy vật này có 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm và 0,3cm, đầu phía trên có 01 van kim loại đường kính 0,6cm; 01 (một) con dao dài 62cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn dài 44cm, cán dao bằng gỗ màu đen, bọc kim loại ở phần đầu, giữa và đuôi cán, cán dao dài 18cm, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất 3,4cm. Dao có 01 vỏ bằng gỗ, màu đen, hai đầu bọc kim loại, vỏ dao dài 49cm, rộng 4,4cm; 01 (một) cân điện tử mini, màu đen có kích thước (12,4 x 7,8)cm; 01 (một) hộp giấy màu đen, có kích thước (18 x 9 x 2,6) cm, bên trong hộp giấy có 01 (một) cái kéo, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, trên thân lưỡi có ký hiệu “Shif”, cán bằng nhựa màu xanh, trắng; 04 (bốn) túi nilon màu trắng, loại túi Zip: Túi nilon zip thứ nhất có kích thước (4,2 x 4,2)cm, túi nilon zip thứ hai có kích thước (5,4 x 5,4)cm, túi nilon zip thứ ba trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,2 x 5,8)cm, túi nilon zip thứ tư trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,6 x 4)cm và 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, trên bật lửa có ký hiệu “H-VIET”, có kích thước 7,4cm x 2,2cm (YaKo khai nhận tất cả đồ vật trên là của YaKo).
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tạ Minh Ttổ D, phường Đ, thị xã A, Gia Laing phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh L tổ G, phường Đ, thị xã A, Gia Laing phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
* Tại bản Kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K3ng an tỉnh G luận giám định:
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nilon được niêm phong trong bì công văn ghi “(1)” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,4302 gram.
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon thứ nhất được niêm phong trong bì công văn ghi “(2)” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 2,4195 gram.
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 08 (tám) gói nilon trong túi nilon thứ hai được niêm phong trong bì công văn ghi “(2)” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 1,0668 gram.
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 19 (mười chín) gói nilon trong túi nilon thứ ba được niêm phong trong bì công văn ghi “(2)” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 2,3438 gram.
- Chất rắn màu nâu, vàng bám dính trong ống thủy tinh (uốn cong, có một đầu phình to) được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu ít nên không cân được khối lượng.
Tổng khối lượng ma túy, loại Methamphetamine là 6,2603gram.
* Tại bản Kết luận giám định số 5/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K3ng an tỉnh G luận giám định: Vật nghi súng gửi giám định là súng hơi hạng nhẹ sử dụng khí gas; bắn bi nhựa, bi sắt đường kính 5mm. Hiện khẩu súng ghi trên không có văn nạp khí gas ở dưới hộp tiếp đạn, không sử dụng bắn được nên không đủ cơ sở để kết luận.
* Vật chứng vụ án: Hiện còn đang tạm giữ gồm có các vật chứng sau:
- Chất dạng tinh thể màu trắng (loại Methemphetamine) trong 01 (một) gói nilon thuộc bì công văn ghi “(1)” còn lại sau giám định có khối lượng 0,3988 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G; tại mép dán mặt sau bì công văn có các dấu tròn của phòng K3 các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Bá H2, Bùi sĩ Thà, Hoàng ngọc B.
- Chất dạng tinh thể màu trắng (loại Methemphetamine) trong trong túi nilon thứ nhất còn lại sau giám định có khối lượng 2,3777 gam; Chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong trong 08 (tám) gói nilon bên trong túi nilon thứ hai còn lại sau giám định có khối lượng 0,9290 gam; Chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong trong 19 (mười chín) gói nilon bên trong túi nilon thứ ba còn lại sau giám định có khối lượng 2,1426 gam thuộc bì công văn ghi “(2)” cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G; tại mép dán mặt sau bì công văn có các dấu tròn của phòng K3 các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Bá H2, Bùi sĩ Thà, Hoàng ngọc B.
- 01 (một) chai nhựa, nắp màu xanh có hai lỗ, lỗ thứ nhất gắn 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 (một) đoạn ống thủy tinh, một đầu phình to, trong ống bám dính chất màu nâu, vàng (loại Methamphetamine) thuộc hộp giấy cactong cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G.
- 01 (một) bật lửa gas, trên thân bật lửa có ký hiệu “HOA VIỆT”; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, màu trắng được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (một) cân điện tử mini, màu đen có kích thước (12,4 x 7,8)cm; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, trên bật lửa có ký hiệu “H-VIET”, có kích thước (7,4 x 2,2) cm; 01 (một) hộp giấy màu đen, có kích thước (18 x 9 x 2,6) cm; 01 (một) cái kéo, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, trên thân lưỡi có ký hiệu “Shif”, cán bằng nhựa màu xanh, trắng; 04 (bốn) túi nilon màu trắng, loại túi Zip: Túi nilon zip thứ nhất có kích thước (4,2 x 4,2)cm, túi nilon zip thứ hai có kích thước (5,4 x5,4)cm, túi nilon zip thứ ba trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,2 x 5,8)cm, túi nilon zip thứ tư trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,6 x 4)cm được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy có kích thước (30,5 x 13 x 13,3) cm, trên hộp giấy có dòng chữ “SỮA TƯƠI LÚA MẠCH”, tại các mép dán của hộp giấy có đóng 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã A.
- 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu NOKIA màu đen, số sê-ri 1: 353677087730485, số sê-ri 2: 353677087730493, khe sim1 được gắn 01 sim có số hiệu: 8984048000011384659 có số thuê bao 0389845475, khe sim2 được gắn 01 sim có số hiệu: 8984048000905787559 có số thuê bao 0868638079, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme C1 màu xanh, kiểu máy: RMX1811, số sê-ri: 2684f71f, IMEI1: 867013046487299; IMEI2: 867013046487281. Trong điện thoại kèm theo 01 thẻ sim số hiệu: 8401220512049858 có số thuê bao 0767270290. Tại góc dưới cùng bên trái màn hình điện thoại bị bể, nứt màn hình điện thoại trong diện (3,5x15,6)cm, điện thoại đã qua sử dụng do Tạ Minh T nộp). 02 (hai) điện thoại nêu trên được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu NOKIA, model: TA-1192, IMEI1: 351288858205798, IMEI 2: 351288858705797, điện thoại không có nắp lưng, khe sim điện thoại không lắp sim, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus, số máy: ML6D2LL/A, số sê-ri: C38R483CGRWM, số IMEI: 355749070382190, khe sim điện thoại được gắn 01 sim có ký hiệu: 8401230812139887IDE có số thuê bao 0899648027, điện thoại đã qua sử dụng do Rcom YaKơ giao nộp. 02 (hai) điện thoại nêu trên được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone, mặt sau có các ký tự: Model: A1687 FCC, ID: BCG-E2944A, IC: 579C-E2944A. Khe sim điện thoại được gắn 01 (một) sim có các ký tự: 4G VIETTEL 8984048000033191484. Phần mép bên trái màn hình và khung viền điện thoại bị bung hở, tại góc dưới bên trái màn hình cảm ứng điện thoại có vùng đen màn hình trong diện (02 x 02)cm (theo kết luận giám định của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng do điện thoại cài đặt mật mã khóa màn hình nên không tìm kiếm và trích xuất được dữ liệu), điện thoại đã qua sử dụng do Rcom Ya Kơ giao nộp. 01 (một) điện thoại nêu trên được niêm phong trong một bì thư công văn tại các mép dán mặt sau có 02 hình dấu tròn của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký, chữ viết ghi họ tên Dương Văn T6, Nguyễn Thành K1.
- 01 (Một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số máy: MWG82LL/A, số sê-ri: G6TZ7K8WN70K, IMEI: 353887107867734, IMEI2: 353887109358518, khe sim điện thoại được gắn 01 sim có số hiệu: 8984048000314126885 có số thuê bao 0965798179, điện thoại đã qua sử dụng do Nguyễn Thanh Lo nộp. 01 (một) điện thoại nêu trên được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, màu đen, số kiểu máy “vivo 1807”, số IMEI 1: 869432048292218, IMEI 2: 869432048292200. Bên trong điện thoại kèm theo 01 thẻ sim có số thuê bao 0346665712, trên sim có dãy số ký hiệu 8984048000910788589. Mặt lưng sau điện thoại bị bong tróc màu sơn, camera sau bị hư hỏng do R’ Ô Trương giao nộp và được niêm phong trong một bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, mặt sau điện thoại có các ký tự “SAMSUNG”, tên kiểu thiết bị Galaxy A20s, số kiểu máy SM-A207F/DS, số sê-ri R9AN30P2HTJ, số IMEI 1: 354994111900805, IMEI2: 354995111900802. Bên trong điện thoại kèm theo 01 thẻ sim có số thuê bao 0384335581, trên sim có dãy số ký hiệu 8984048000315673796 do Trần Công D nộp và được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, màu đen, mặt sau điện thoại có các ký tự “SAMSUNG”, tên kiểu thiết bị Galaxy A12, số kiểu máy SM-A127F/DS, số sê-ri R58T11VQQEX, số IMEI 1: 358413604763514, IMEI 2: 356766634763516. Bên trong điện thoại có 02 (hai) thẻ sim thẻ thứ nhất trên sim có dãy số 8984048000900968872 có số thuê bao 0377474337 của nhà mạng Viettel và thẻ sim thứ 2 trên sim có dãy số 89840200011437163692, có số thuê bao 0911468453 của nhà mạng Vinaphone do Ksor C1 nộp và được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
Còn đối với các vật chứng gồm:
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại dài 22cm; trên thân có chữ, số: “NO 871072- MI9IIAI U.8.ARMY”; báng có kích thước (10,5x5)cm, hai bên báng có ốp nhựa màu nâu; bên trong báng có 01 hộp tiếp đạn, dưới đáy có 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm và 0,3cm, đầu phía trên có van kim loại đường kính 0,6cm. Mẫu vật trên được niêm phong trong một bì công văn được dán kín các mép, có đóng dấu đỏ của Phòng K3 các chữ ký ghi họ tên của Trần Minh L2, Nguyễn Trọng D1; 01 (một) con dao dài 62cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn dài 44cm, cán dao bằng gỗ màu đen, bọc kim loại ở phần đầu, giữa và đuôi cán, cán dao dài 18cm, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất 3,4cm. Dao có 01 vỏ bằng gỗ, màu đen, hai đầu bọc kim loại, vỏ dao dài 49cm, rộng 4,4cm được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy có kích thước (91,5 x 8,5 x 6,5) cm, trên hộp giấy có dòng chữ “FISH TANK LAMP”, tại các mép dán của hộp giấy có đóng 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã A. Các vật chứng này là tang vật vi phạm hành chính bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số:13/QĐ-XPHC ngày 19/6/2024 của UBND thị xã Ai với R1.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Ayun Pa truy tố các bị cáo như sau:
Bị cáo Rcom YaKơ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và T7chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Tạ Minh Tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Thanh Ltội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 5, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 55, Điều 58 Bộ Luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo R1 từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt của hai tội.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Minh T 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy;
Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) chai nhựa, nắp màu xanh có hai lỗ, lỗ thứ nhất gắn 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 (một) đoạn ống thủy tinh, một đầu phình to, trong ống bám dính chất màu nâu, vàng (loại Methamphetamine) thuộc hộp giấy cactong cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G.
- 01 (một) bật lửa gas, trên thân bật lửa có ký hiệu “HOA VIỆT”; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, màu trắng được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã A.
- 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, trên bật lửa có ký hiệu “H-VIET”, có kích thước (7,4 x 2,2) cm; 01 (một) hộp giấy màu đen, có kích thước (18 x 9 x 2,6) cm; 01 (một) cái kéo, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, trên thân lưỡi có ký hiệu “Shif”, cán bằng nhựa màu xanh, trắng; 04 (bốn) túi nilon màu trắng.
Tịch thu tiêu hủy các thẻ Sim điện thoại của các bị cáo Rcom Ya K2 Minh Tguyễn Thanh Lâm
Tịch thu sung quỹ nhà nước các điện thoại của các bị cáo Rcom YaKơ, Tạ Minh Tguyễn Thanh L01 cân điện tử mi ni.
Hai chiếc điện thoại 01 điện thoại NOKIA và 01 điện Iphone 6s Plus của R2c định không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo R1ơ hai chiếc điện thoại trên.
Trả lại các điện thoại và thẻ sim cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Công D C1 ô Trương.
Đề nghị truy thu số tiền do bị cáo R1ơ bán ma túy mà có. Truy thu số tiền 3.180.000 đồng của bị cáo Reom Ya K2 sung quỹ nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo không tranh luận gì, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Rcom YaKơ thường sử dụng ma túy, loại ma túy đá. Đầu tháng 12 năm 2023 Ya Kơ mua ma túy của một người tên T2hu vực Bến xe M, thành phố Hồ Chí Minh, sau khi mua về Ya Kơ chia nhỏ số ma túy thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời.
Trong khoảng thời gian từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023 với sự giúp sức của Tạ Minh Tguyễn Thanh L, R1 đã nhiều lần bán ma túy. Cụ thể ngày 18/12/2023 Nguyễn Thanh L liên hệ với YaKơ để Nay Sĩ mua ma túy của Ya K2, sau đó YaKo đã trực tiếp bán 01 gói ma túy cho Nay Si số tiền 400.000 đồng tại nhà của YaKơ. Ngày 21/12/2023 Tạ Minh Tiên hệ với YaKơ để mua ma túy và YaKơ trực tiếp bán 01 gói ma túy cho Tạ Minh Tsố tiền 400.000 đồng, Ksor C1 hệ với YaKơ, YaKơ bán 01 gói ma túy cho Ksor C1số tiền 500.000đồng do Tạ Minh T ma túy và nhận tiền từ Ksor C1g địa điểm tại nhà của YaKơ.
Ngày 24/12/2023, Ya K2ợc Tạ Minh Tu lần bán giúp ma túy cho Ya K2, cụ thể: Tcho Ksor Clói ma túy với số tiền 500.000 đồng tại khu vực đường L, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Bán 01 gói ma túy cho Trần Công Dsố tiền 300.000 đồng tại đường H, phường Đ, thị xã A, Gia Lai. Bán 01 gói ma túy cho Siu Rcom Ksố tiền 380.000 đồng tại khu vực đường L, phường H, thị xã A bán 01 gói ma túy cho R' Ô Trương với số tiền 400.000 đồng tại khu vực nhà thờ (Giáo xứ P1) thuộc phường Đ, thị xã A, Gia Lai. Tấy 01 gói sử dụng một mình và sau đó trả tiền cho Ya K20.000 đồng.
Ngày 25/12/2023, tại phòng ngủ thứ hai trong nhà R1 ở tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai, YaKơ lấy gói ma tuý cùng bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của mình rồi đốt tự hút, sau đó YaKơ rủ thêm Nguyễn Thanh LTạ Minh T sử dụng trái phép chất ma túy với mình.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa đã truy tố bị cáo R1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và T7chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tạ Minh Tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh Ltội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án:
Đối với bị cáo R1: Bị cáo đã mua ma túy chia thành nhiều túi nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Trong vụ án bị cáo Ylrực tiếp bán ma túy cho Tạ Minh T, Nay S Ksor C1; đồng thời cùng Tma túy cho Trần Công D, Siu Rcom K, R Ô Ksor C1. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo là người chủ động rủ rê, chuẩn bị ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và cung cấp địa điểm để cùng sử dụng ma tuý với Nguyễn Thanh LTạ Minh T. Bị cáo YaKơ thực hiện hành vi phạm tội với vai trò vừa là người tổ chức, người thực hành. Do đó bị cáo YaKơ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 02 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Tạ Minh T, bị cáo Tgười tích cực, trực tiếp giúp YaKo bán ma túy 05 lần, cụ thể bán cho Ksor Chơi 02 lần, cho Trần Công D, Siu Rcom K, RÔT hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Do đó bị cáoTuấn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 02 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh L, bị cáo đã tích cực giúp Rcom YaKo bán được 01 gói ma túy cho Nay S. Bị cáo Lc hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức. Do đó bị cáo Li chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo Rcom YaKơ có nhân thân xấu, ngày 21/5/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 05 năm tù về tội cố ý gây thương tích đã được xóa án tích, hiện bị cáo có một tiền án, ngày 13/7/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa xử phạt 24 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, ngày 01/9/2022 được đặc xá trở về địa phương, hiện chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này YaKơ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Tạ Minh Thân thân xấu. Ngày 01/7/2015 Tạ Minh T, bị Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Th khẩn khai báo, nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thanh Lm gia giúp Ya Kơ bán ma túy một lần với vai trò giúp sức. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét, đánh giá, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp Cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của từng bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua quá trình điều tra xác định hoàn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, không có tài sản giá trị. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Xét các vấn đề liên quan khác:
Trong quá trình điều tra xác định bị cáo YaKơ đã nhận tiền bán ma túy như sau: YaKơ trực tiếp bán và nhận tiền từ S 400.000 đồng, bán và nhận tiền từ T000 đồng, bán và nhận tiền từ Chơi 500.000 đồng. Tgiúp ma túy cho YaKơ 5 lần tổng số tiền T cho Ya K2 1.880.000đồng cụ thể: bán cho C1000 đồng, bán cho D000đồng bán cho Kiêm 380.000đồng bán cho Trương 400.000đồng, tiền Tma túy của YaKơ là 400.000 đồng. Tổng cộng YaKơ đã thu lợi bất chính là 3.180.000đồng. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo R1 là 3.180.000 đồng, để nộp ngân sách nhà nước.
[7] Đối với hành vi của Rlơ tàng trữ 01 con dao dài 62cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn và 01 khẩu là súng bằng kim loại dài 22cm, trên thân có chữ, số: “N°871072 MI9IIAI U.8.ARMY”, báng có kích thước (10,5x5)cm, hai bên báng có ốp nhựa màu nâu, bên trong báng có 01 vật bằng kim loại màu đen, kích thước (11x3,3)cm, dưới đáy vật này có 02 lỗ tròn đường kính 0,5cm và 0,3cm, đầu phía trên có 01 van kim loại đường kính 0,6cm. Ủy ban nhân dân thị xã A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số:13/QĐ-XPHC ngày 19/6/2024 đối với Ya K2 bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung tịch thu các tang vật trên theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số:13/QĐ-XPHC ngày 19/6/2024 của UBND thị xã Ayun Pa.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh LMinh TSĩ, R' Ô Trương và Trần Công D an thị xã A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Ksor Clra ngày 24/12/2023 tại Plei Rbai, xã I, huyện P, tỉnh Gia Laibị Công an xã I hiện và xử phạt hành chính theo quy định. Còn hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Siu Reom Kiêm xảy ra ngày 24/12/2024 tại Plei Kual, xã I, huyện P, tỉnh Gia Laiquan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiến hành thông báo cho xã I, huyện P, Gia Laixử lý theo thẩm quyền.
Đối với đối tượng người phụ nữ tên T2a túy cho R1, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra tuy nhiên chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
[8] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy;
Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) chai nhựa, nắp màu xanh có hai lỗ, lỗ thứ nhất gắn 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 (một) đoạn ống thủy tinh, một đầu phình to, trong ống bám dính chất màu nâu, vàng (loại Methamphetamine) thuộc hộp giấy cactong cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh Gia Lai.
- 01 (một) bật lửa gas, trên thân bật lửa có ký hiệu “HOA VIỆT”; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, màu trắng được niêm phong trong 01 (một) bì công văn màu trắng của Công an thị xã Ayun Pa.
- 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, trên bật lửa có ký hiệu “H-VIET”, có kích thước (7,4 x 2,2) cm; 01 (một) hộp giấy màu đen, có kích thước (18 x 9 x 2,6) cm; 01 (một) cái kéo, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, trên thân lưỡi có ký hiệu “Shif”, cán bằng nhựa màu xanh, trắng; 04 (bốn) túi nilon màu trắng.
Tịch thu tiêu hủy các thẻ Sim điện thoại của các bị cáo Rcom Ya K2 Minh Tguyễn Thanh Lâm
Tịch thu sung quỹ nhà nước các điện thoại của các bị cáo Rcom YaKơ, Tạ Minh Tguyễn Thanh L01 cân điện tử mi ni.
Hai chiếc điện thoại 01 điện thoại NOKIA và 01 điện Iphone 6s Plus của R2c định không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo R1ơ hai chiếc điện thoại trên.
Trả lại các điện thoại và thẻ sim cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Công D C1 ô Trương.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố rụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
*Tuyên bố các bị cáo phạm tội như sau:
Bị cáo Rcom Ya K2ạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Tạ Minh T tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Nguyễn Thanh Lm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo R1ơ 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Tổng hợp hình phạt của hai tội là 14 năm 09 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2023.
-
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tạ Minh Tăm 03 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023
-
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Lnăm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
* Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng (loại Methemphetamine) trong 01 gói nilon thuộc bì công văn ghi “(1)” còn lại sau giám định có khối lượng 0,3988 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G mép dán mặt sau bì công văn có các dấu tròn của phòng K3 các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Bá H2 sĩ Thà, Hoàng ngọc Bích.
- Chất dạng tinh thể màu trắng (loại Methemphetamine) trong trong túi nilon thứ nhất còn lại sau giám định có khối lượng 2,3777 gam; Chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong trong 08 gói nilon bên trong túi nilon thứ hai còn lại sau giám định có khối lượng 0,9290 gam; Chất màu trắng dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong trong 19 gói nilon bên trong túi nilon thứ ba còn lại sau giám định có khối lượng 2,1426 gam thuộc bì công văn ghi “(2)” cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh G mép dán mặt sau bì công văn có các dấu tròn của phòng K3 các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Bá H2 sĩ Thà, Hoàng ngọc B.
Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa, nắp màu xanh có hai lỗ, lỗ thứ nhất gắn một đoạn ống nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn một đoạn ống thủy tinh, một đầu phình to, trong ống bám dính chất màu nâu, vàng (loại Methamphetamine) thuộc hộp giấy cactong cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2ng an tỉnh Gia Lai.
- 01 bật lửa gas, trên thân bật lửa có ký hiệu “HOA VIỆT”; 01 cái kéo bằng kim loại, màu trắng.
- 01 bật lửa gas màu đỏ, trên bật lửa có ký hiệu “H-VIET”, có kích thước (7,4 x 2,2) cm; 01 hộp giấy màu đen, có kích thước (18 x 9 x 2,6) cm.
- 01 cái kéo, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, trên thân lưỡi có ký hiệu “Shif”, cán bằng nhựa màu xanh, trắng.
- 04 túi nilon màu trắng, loại túi Zip: Túi nilon zip thứ nhất có kích thước (4,2 x 4,2)cm, túi nilon zip thứ hai có kích thước (5,4 x5,4)cm, túi nilon zip thứ ba trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,2 x 5,8)cm, túi nilon zip thứ tư trên miệng túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (4,6 x 4)cm được niêm phong trong một thùng giấy có kích thước (30,5 x 13 x 13,3) cm.
Tịch thu tiêu hủy các thẻ sim điện thoại như sau:
- 01 sim có số hiệu: 8984048000011384659 có số thuê bao 0389845475 và 01 sim có số hiệu: 8984048000905787559 có số thuê bao 0868638079; 01 thẻ sim số hiệu: 8401220512049858 có số thuê bao 0767270290 của Tạ Minh Tuấn.
- 01 sim có số hiệu: 8984048000314126885 có số thuê bao 0965798179, của Nguyễn Thanh Lâm.
- 01 sim có số hiệu: 4G VIETTEL 8984048000033191484 của Rcom Ya Kơ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước hai chiếc điện thoại của Tạ Minh Tđiện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số sê-ri 1: 353677087730485, số sê-ri 2: 353677087730493, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme C1 màu xanh, kiểu máy: RMX1811, số sê-ri: 2684f71f, IMEI1: 867013046487299; IMEI2: 867013046487281 Tại góc dưới cùng bên trái màn hình điện thoại bị bể, nứt màn hình điện thoại trong diện (3,5x15,6)cm, điện thoại đã qua sử dụng;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại của Rcom Ya Kơ nhãn hiệu Iphone, mặt sau có các ký tự: Model: A1687 FCC, ID: BCG-E2944A, IC: 579C-E2944A. Phần mép bên trái màn hình và khung viền điện thoại bị bung hở, tại góc dưới bên trái màn hình cảm ứng điện thoại có vùng đen màn hình trong diện (02 x 02)cm (theo kết luận giám định của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng do điện thoại cài đặt mật mã khóa màn hình nên không tìm kiếm và trích xuất được dữ liệu), điện thoại đã qua sử dụng;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại của Nguyễn Thanh Ln hiệu Iphone 11 Pro Max, số máy: MWG82LL/A, số sê-ri: G6TZ7K8WN70K, IMEI: 353887107867734, IMEI2: 353887109358518, điện thoại đã qua sử dụng; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 cân điện tử mini, màu đen có kích thước (12,4 x 7,8)cm.
Trả lại cho bị cáo R1ơ hai điện thoại sau: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu NOKIA, model: TA-1192, IMEI1: 351288858205798, IMEI 2: 351288858705797, điện thoại không có nắp lưng, khe sim điện thoại không lắp sim, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus, số máy: ML6D2LL/A, số sê-ri: C38R483CGRWM, số IMEI: 355749070382190, khe sim điện thoại được gắn 01 sim có ký hiệu: 8401230812139887IDE có số thuê bao 0899648027, điện thoại đã qua sử dụng.
Trả lại cho anh R' ô Trương 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, màu đen, số kiểu máy “vivo 1807”, số IMEI 1: 869432048292218, IMEI 2: 869432048292200. Bên trong điện thoại kèm theo 01 thẻ sim có số thuê bao 0346665712, trên sim có dãy số ký hiệu 8984048000910788589. Mặt lưng sau điện thoại bị bong tróc màu sơn, camera sau bị hư hỏng.
Trả lại cho anh Trần Công D điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, mặt sau điện thoại có các ký tự “SAMSUNG”, tên kiểu thiết bị Galaxy A20s, số kiểu máy SM-A207F/DS, số sê-ri R9AN30P2HTJ, số IMEI 1: 354994111900805, IMEI2: 354995111900802. Bên trong điện thoại kèm theo 01 thẻ sim có số thuê bao 0384335581, trên sim có dãy số ký hiệu 8984048000315673796.
Trả lại cho anh Ksor C1 điện thoại di động đã qua sử dụng, màu đen, mặt sau điện thoại có các ký tự “SAMSUNG”, tên kiểu thiết bị Galaxy A12, số kiểu máy SM-A127F/DS, số sê-ri R58T11VQQEX, số IMEI 1: 358413604763514, IMEI 2: 356766634763516. Bên trong điện thoại có 02 (hai) thẻ sim thẻ thứ nhất trên sim có dãy số 8984048000900968872 có số thuê bao 0377474337 của nhà mạng Viettel và thẻ sim thứ 2 trên sim có dãy số 89840200011437163692, có số thuê bao 0911468453 của nhà mạng Vinaphone.
Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã A Chi cục THADS thị xã Ayun Pa.
* Vấn đề liên quan khác:
Truy thu số tiền 3.180.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Rcom Ya K2 nộp ngân sách nhà nước.
* Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Rcom Ya K2 Minh Tễn Thanh L bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/9/2024, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà (đã ký) Ksor H'Đuen |
Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Rcom Y mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
