Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 19 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Liên.

Ông Hà Mạnh Nô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở UBND xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với.

- Bị cáo: Phàn Văn G; sinh năm 1991; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phàn Văn N; sinh năm 1971 và con bà: Đặng Thị K; sinh năm 1968; có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Lý Thị V; sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số [...] cấp ngày 13/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C1; tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Ngày 28/5/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Minh H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C - Viên chức (Có mặt).

- Người làm chứng: Ông Phàn Văn T; sinh năm 1978 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 3/2019 đến tháng 12/2023 (không nhớ ngày) Phàn Văn G một mình đi vào khu rừng phòng hộ thuộc thôn N, xã Y, huyện B Mục đích để khai thác gỗ Nghiến làm thớt bán và xẻ gỗ làm nhà, cụ thể:

Lần 1: Khoảng đầu tháng 3/2019 G một mình mang bật lửa đi lên khu rừng phòng hộ phát hiện 01 cây gỗ Nghiến còn tươi đứng, đường kính gốc khoảng 01m, cao khoảng 10m bị gãy phần ngọn. G dùng lửa đốt phần gốc cây N1, sau đi về nhà khoảng 04 ngày quay lại, thấy cây Nghiến đổ phần gốc đang cháy dở, G dập lửa tắt đi về. Đến khoảng tháng 6/2019 G cầm máy cưa xăng màu cam kèm lam xích dài 80cm, 01 con dao quắm, 01 búa bằng kim loại đến vị trí cây N1 đã đốt đổ trước cắt cây thành 02 khúc, xẻ 10 ngày được khoảng 100 cục gỗ dạng thớt, đường kính 30x5cm vận chuyển đến khu vực đường liên thôn bán cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, giá 80.000đ/01 cục.

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/4/2024 xác định cây Nghiến ký hiệu G02 tổng khối lượng 10,236m³, phần khai thác ra khỏi hiện trường 2,048m³, gỗ còn lại hiện trường 8,188m³ (T1 phẩy một trăm tám mươi tám mét khối).

Lần 2: Khoảng tháng 02/2020 G tiếp tục đem máy cưa xăng vào khu rừng phòng hộ, phát hiện 01 cây gỗ Nghiến đường kính gốc 1,3m, cao khoảng 15m, cây bị khô lá cách cây thứ nhất khoảng 50m, G dùng máy cưa cắt khoảng một tiếng cây gỗ Nghiến đổ xong đi về. Đến tháng 8/2020 G tiến hành cắt xẻ thành khúc được khoảng 30 cục dạng thớt đường kính 35x5cm xong vận chuyển đến đường liên thôn bán cho người đàn ông mua lần trước giá 100.000đ/01 cục.

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/4/2024 xác định cây Nghiến ký hiệu G03 tổng khối lượng 18,125m³, phần đã khai thác ra khỏi hiện trường 1,411m³, gỗ còn lại hiện trường 16,714m³ (Mười sáu phẩy bẩy trăm mười bốn mét khối).

Lần 3: Khoảng 10 ngày sau G có nhu cầu làm nhà G tiếp tục đi lên khu rừng phòng hộ trên phát hiện thấy 01 cây Nghiến cách cây thứ nhất và thứ hai khoảng 200m, đường kính gốc khoảng 01m, cao khoảng 12m còn tươi đứng. G dùng máy cưa xăng cắt khoảng 50 phút cây đổ sau đi về nhà. Đến đầu tháng 8/2022 G dùng máy cưa xăng cắt cây gỗ thành 02 khúc xẻ được 20 thanh xà kích thước 07cm x 18cm x 2,4m vận chuyển về làm nhà ở tại thôn N, xã Y.

Biên bản khám nghiệm, xác định cây Nghiến ký hiệu G04 tổng khối lượng 6,012m³, phần đã khai thác lấy ra khỏi hiện trường 3,844m³, gỗ còn lại hiện trường 2,168m³ (Hai phẩy một trăm sáu mươi tám mét khối).

Lần 4: Cuối tháng 12/2023 G một mình cầm máy cưa xăng đi lên khu rừng phòng hộ phát hiện 01 cây Nghiến đường kính khoảng 01m, dài khoảng 10m bị bật gốc đổ từ trước, bị mục và rỗng phần lõi. G dùng máy cưa cắt được khoảng 35 cục thớt kích thước 35x5cm dang thớt. Xong nhờ bố đẻ Phàn Văn N, anh trai Phàn Văn T2 và thuê Phàn Văn D (người cùng thôn) vận chuyển mỗi người 02 cục thớt về khu vực gần nhà G được 06 (Sáu) cục thớt Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ. Số thớt còn lại G một mình vận chuyển ra khỏi rừng bán cho người đàn ông trước đó đã mua thớt của G, giá khoảng từ 80.000₫ - 100.000đ/01cục.

Biên bản khám nghiệm hiện trường cây Nghiến ký hiệu G05 khối lượng 9,273m³, phần G khai thác 2,996m³; phần còn lại hiện trường 6,277m³ (Sáu phẩy hai trăm bảy mươi bảy mét khối).

Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/4/2024 xác định vị trí 04 cây gỗ Nghiến Phàn Văn G khai thác thuộc thuộc lô a, khoảnh 10 tiểu khu A. Đối tượng rừng: Thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên (Theo bản đồ quy hoạch 3 loại rừng năm 2018 được U) do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.

Ngày 24/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 110 gửi Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc V1, trưng cầu 04 mẫu gỗ thu tại hiện trường ký hiệu: M2, M3, M4 và M5.

Bản kết luận số 318/CNR-VP ngày 08/5/2024 Viện nghiên cứu công nghiệp rừng đã kết luận tên và nhóm gỗ bị thiệt hại của 04 cây gỗ đã khai thác: Mẫu ký hiệu M2 đến M5 đồng nhất về chủng loại. Tên gỗ: Nghiến, tên khoa học: Burretiodendron tonkinense nhóm gỗ: II. Loài N1 được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm” ban hành kèm theo nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021 của Chính phủ.

Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp các ngành chức năng đưa Phàn Văn G đến xác định hiện trường các vị trí cây gỗ Nghiến đã khai thác, kết quả xác định 04 cây gỗ Giang chỉ dẫn trùng khớp với biên bản khám nghiệm hiện trường.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận 04 cây gỗ Nghiến Phàn Văn G khai thác tổng khối lượng là 43,646m³ giá trị 417.552.000₫ (Bốn trăm mười bảy triệu năm trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Kết luận giám định ngày 15/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận 20 (Hai mươi) thanh gỗ Nghiến nhóm IIA Phàn Văn G khai thác làm nhà khối lượng quy tròn 0,811m³ giá trị 8.272.200đ (Tám triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm đồng).

Vật chứng vụ án:

  • 01 Đầu máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam, không có lam, xích, thiếu một bộ phận máy (đã qua sử dụng, máy không hoạt động được); 01 con dao quắm dài 34cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04cm (đã qua sử dụng); 01 cái búa dài 30cm cả chuôi, chuôi bằng gỗ dài 27cm (đã qua sử dụng).
  • Đối với 03 (ba) cây gỗ Nghiến còn lại hiện trường 27,07m³ tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.
  • Đối với 01 cây gỗ Nghiến bị bật gốc khối lượng 6,277m³ còn lại hiện trường và 06 (sáu) cục gỗ dạng thớt khối lượng 0,023m³ Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển đến Hạt kiểm lâm huyện xử lý theo thẩm quyền.
  • Đối với các cục gỗ dạng thớt Phàn Văn G đã bán cho một người đàn ông (không rõ tên tuổi địa chỉ) và số tiền thu lời từ việc bán thớt, do thời gian lâu, G không nhớ cụ thể bán bao nhiêu lần, số tiền bao nhiêu hiện đã chi tiêu cá nhân hết, do vậy trong quá trình điều tra không truy thu được.
  • Đối với 01 bật lửa màu hồng, 01 chai nhựa màu xanh loại 1,5 lít đựng xăng, 01 lọ nhựa màu đen loại 01 lít đựng nhớt, 01 thước dây bằng kim loại đã bị hỏng nên G đã vứt trên rừng không truy thu được.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa Ban quản lý rừng phòng hộ yêu cầu bị cáo Phàn Văn G bồi thường số gỗ 7,303m³ đã đưa ra khỏi rừng giá trị 72.489.500đ. Hiện Giang đã bồi thường số tiền 8.272.200đ, số tiền còn phải bồi thường 64.226.300đ để nộp sung vào ngân sách nhà nước.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSBM ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố Phàn Văn G về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn G phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  • Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 232; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phàn Văn G từ 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Không.
  • Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Phàn Văn G bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tổng số tiền 72.489.500đ để nộp sung vào ngân sách nhà nước được khấu trừ vào số tiền đã nộp 8.272.200đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê . Bị cáo G còn phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 64.226.300đ.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 03 cây gỗ Nghiến còn lại hiện trường 27,07m³. Giao cho Phàn Văn G1 được sở hữu 20 thanh xà gỗ Nghiến nhóm IIA, kích thước 07cm x 18cm x 2,4m đã làm nhà ở khối lượng quy tròn 0,811m³ (không phẩy tám một một mét khối). Tịch thu tiêu hủy: 01 Đầu máy cưa xăng; 01 con dao quắm dài 34cm; 01 cái búa dài 30cm đã qua sử dụng.
  • Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa bị cáo Phàn Văn G:

Bị cáo khai thác trái phép 03 cây gỗ nghiến nhóm IIA, khối lượng 34,373m³ thuộc đất rừng phòng hộ là rừng tự nhiên. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh khó khăn nên cắt gỗ làm nhà (năm 2023 được nhà nước hỗ trợ tiền làm nhà) và xẻ thớt bán lấy tiền mua thức ăn phục vụ sinh hoạt gia đình, đây là nguyên nhân chính dẫn đến phạm tội; bị cáo không có mục đích buôn bán chỉ là để phục vụ cuộc sống gia đình thường ngày, do quen lối sống dựa vào rừng từ nhỏ nên phạm tội; trong quá trình làm việc cơ quan tố tụng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, rất ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng đặc biệt khó khăn, có hai con nhỏ cần sự chăm sóc của cha mẹ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần, tuy nhiên xem xét vì hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội do thói quen sống dựa vào rừng, thiếu thốn lên rừng khai thác gỗ trái phép dẫn đến phạm tội nhiều lần mà không hay biết. Đề nghị HĐXX: Tuyên phạt bị cáo Phàn Văn G phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; Về Hình phạt: Áp dụng điểm d, khoản 3, Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38; điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phàn Văn G 05 năm 02 tháng đến 05 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ban Q yêu cầu bị cáo bồi thường 72.489.500đ, bị cáo đã bồi thường được 8.272.200đ; Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo Phàn Văn G.

Bị cáo Phàn Văn G nhất trí với ý kiến của người bào chữa không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Nguyên đơn dân sự nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không có tranh luận gì.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người làm chứng ông Phàn Văn T, xét thấy bị cáo, Kiểm sát viên đồng ý xét xử; trong hồ sơ đã có lời khai việc vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 03/2019 đến tháng 12/2023 (không nhớ ngày) Phàn Văn G đã có hành vi khai thác trái phép 03 cây gỗ Nghiến nhóm IIA tổng khối lượng là 34,373m³ giá trị 332.968.600đ. Vị trí khai thác tại lô a, khoảnh 10, tiểu khu A theo bản đồ quy hoạch 3 loại rừng năm 2018 do UBND tỉnh H phê duyệt, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 3 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Điều 232 Bộ luật Hình sự

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm:

d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 30 mét khối (m³) trở lên gỗ loài thực vật thông thường hoặc 20 mét khối (m³) trở lên gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA....

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo biết việc khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện việc khai thác gỗ trái phép. Bị cáo biết hằng năm huyện B phát động phong trào trồng cây, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống sói mòn sạt lở. Huyện B đã có nhiều giải pháp quyết liệt tuyên truyền bảo vệ rừng, nhưng tình hình khai thác gỗ trái phép trên địa bàn vẫn diễn ra rất phức tạp. Bị cáo khai thác trái phép đã gây thiệt hại về tài sản của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường rừng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật. Mục đích do nhu cầu làm nhà ở và xẻ thớt bán lấy tiền tiêu xài trang trải gia đình, đúng ra bị cáo phải xin phép cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép mới được khai thác gỗ, nhưng không xin phép mà tự ý khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật. Nên cần xử lý bằng chế tài Luật hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi khai thác gỗ Nghiễn trên 02 lần nên phải chịu trách nhiệm tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, tự nguyên bồi thường một phần thiệt hại cho nguyên đơn dân sự số tiền 8.272.200đ, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình thuộc hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ tiền làm nhà năm 2023; ngoài ra bị cáo lao động chính trong gia đình các con còn nhỏ cần có sự chăm sóc của bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

- Bị cáo Phàn Văn G đang áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 4 Điều 232 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000₫”. Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định được Nhà nước hỗ trợ tiền làm nhà, là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện nguyên đơn dân sự đề nghị bị cáo Phàn Văn G bồi thường số gỗ Nghiến đã bị cắt xẻ đưa ra khỏi rừng khối lượng 7,303m³ giá trị 72.498.500đ. Bị cáo đã bồi thường số tiền 8.272.200đ, nay còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại 64.226.300đ để nộp sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp nên được chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • [8.1] Đối với 03 cây gỗ Nghiến khối lượng 27,07m³ còn lại hiện trường cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • [8.2] Đối với 20 thanh xà gỗ Nghiến nhóm IIA giá trị 8.272.200đ, bị cáo G đã làm nhà ở và bồi thường xong theo quy định phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, xét bị cáo G đã sử dụng làm ở nếu tháo dỡ sẽ bị hỏng công năng sử dụng của nhà nên cần tuyên giao cho bị cáo G được quyền sở hữu 20 thanh xà gỗ Nghiến nhóm IIA, khối lượng quy tròn 0,811m³ thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
  • [8.3] Đối với 01 đầu máy cưa xăng; 01 con dao quắm; 01 cái búa là công cụ phạm tội đã cũ, hỏng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • [8.4] Đối với 01 chiếc bật lửa, 01 chai nhựa đựng xăng, 01 lọ nhựa đựng nhớt, 01 thước dây bằng kim loại đã bị hỏng bị cáo G đã vứt trên rừng không truy thu được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Trong vụ án có một số đối tượng liên quan: Bị cáo G ngoài hành vi phạm tội đã bị bị truy tố, còn có hành vi khai thác lâm sản trái phép một phần cây gỗ Nghiến bị đổ 2,996m³ cắt, xẻ được 35 cục thớt đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, xét thấy không đủ khối lượng xử lý hình sự, cơ quan CSĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vật chứng đến Hạt Kiểm lâm xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9.1] Đối với hành vi vận chuyển thớt của Phàn Văn D, Phàn Văn N, Phàn Văn T2 bị cáo G khai thác thuê vận chuyển 06 cục dạng thớt khối lượng 0,023m³ dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan CSĐT đã chuyển đến Hạt Kiểm lâm huyện xử phạt VPHC là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9.2] Đối với người đàn ông mua các cục gỗ dạng thớt của bị cáo G, quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ người đàn ông này. Do vậy Cơ quan CSĐT đã tách ra điều tra theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[11] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị có căn cứ được chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo Phàn Văn G hộ nghèo là người dân tộc thiểu số và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn G phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 232; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt: Bị cáo Phàn Văn G 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 28/5/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
    Buộc bị cáo Phàn Văn G bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang tổng số tiền 72.489.500đ (Bảy mươi hai triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn năm trăm đồng) để nộp sung vào ngân sách nhà nước được khấu trừ vào số tiền đã nộp 8.272.200đ (Tám triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm đồng) theo biên lai thu số 0002518 ngày 10/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Bị cáo Phàn Văn G còn phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 64.226.300đ (Sáu mươi tư triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn ba trăm đồng).
    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 03 (ba) cây gỗ Nghiến đã bị cắt đổ còn lại tại hiện trường là 27,07m³ (hai mươi bảy phẩy không bảy mét khối).
    Giao cho Phàn Văn G1 được quyền sở hữu 20 (hai mươi) thanh xà gỗ Nghiến nhóm IIA, (trong đó 08 thanh xà có kích thước dài 2,1m x rộng 18cm x dày 08cm có khối lượng 0,811m³; 12 thanh xà có kích thước dài 2,35m x rộng 18cm x dày 08cm có khối lượng 0,318m³). Tổng khối lượng quy tròn là 0,811m³ (không phẩy tám trăm mười một mét khối).
    Tịch thu tiêu hủy: 01 Đầu máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam, không có lam, xích, thiếu một bộ phận máy (cũ, bẩn đã qua sử dụng, máy không hoạt động được); 01 con dao quắm dài 34cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04cm (dao cũ đã qua sử dụng); 01 cái búa dài 30cm cả chuôi, chuôi bằng gỗ dài 27cm (cũ, bẩn đã qua sử dụng).
    (Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
  6. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
    Bị cáo Phàn Văn G được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phàn Văn Giang phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger