Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh.

Bà Nguyễn Thị Kiều Linh.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trịnh Thị Thanh N (Tên gọi khác: Ú) - Sinh ngày 28/5/1973 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán nhỏ; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trịnh Văn T1 (chết) và bà Phan Thị H (chết); Chồng: Tống Xuân H1, sinh năm 1973, có 02 con đều đã chết; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Tống Thị H2 (Tên gọi khác: B) - Sinh ngày 09/5/1979 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán nhỏ; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 3/12; con ông Tống Đình N1, sinh năm 1939 và bà Trần Thị B1, sinh năm 1949; Chồng: Vũ Xuân C, sinh năm 1977, có 02 con sinh năm 2008 và năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Mang D - Sinh năm: 1986; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • Mang T2 - Sinh năm: 1977; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • Mang Thị Ú1 - Sinh năm: 1990; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • Mang H3 - Sinh năm: 1997; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • Tống Đình T3 - Sinh năm: 1971; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

Tất cả vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ giữa tháng 9/2023 đến ngày 07/11/2023, Trịnh Thị Thanh N trực tiếp làm cái đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề cho những đối tượng khác. Theo đó, N lấy kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Trung - T để làm cơ sở tính thắng thua với những đối tượng đánh bạc và thống nhất thời gian nhận tịch đề trước thời điểm các đài xổ số mở thưởng. Riêng Tống Thị H2 dùng điện thoại di động để nhắn tin đánh đề với N.

Việc đánh số đề giữa N và các đối tượng được thực hiện bằng các hình thức và tỷ lệ thắng thua như sau: đánh 02 chân (đánh ô số có hai chữ số cuối của kết quả xổ số từ giải tám đến giải đặc biệt), tỷ lệ thắng gấp 70 lần số tiền cược; đánh 03 chân (đánh ô số có ba chữ số cuối của kết quả xổ số từ giải bảy đến giải đặc biệt), tỷ lệ thắng gấp 600 lần số tiền cược; đánh số đá (đánh một cặp số hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ giải tám đến giải đặc biệt), tỷ lệ thắng 600 lần số tiền cược.

Ngày 07/11/2023, N vừa bán tạp hóa tại thôn D- xã X- huyện Đ vừa trực tiếp ghi số đề cho các đối tượng: Mang Dự, Mang Tìm, Mang Thị Ú1 cùng một số người khác (không nhớ họ tên) và nhận tin nhắn đánh đề từ Tống Thị H2. Lúc 17h40' cùng ngày, khi N đang dùng điện thoại di động để truy cập kết quả mở thưởng số số tỉnh Đắk Lắk để dò kết quả thắng thua với những người đánh đề thì bị Công an xã X kiểm tra phát hiện. Các đối tượng đã sử dụng số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

-Tống Thị H2 đánh bạc với số tiền 1.610.000 đồng, thắng 5.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của H2 là 6.660.000 đồng.

-Mang Dự, Mang Tìm, Mang Thị Ú1 mỗi người đánh bạc với số tiền 36.000 đồng. Tất cả đều thua hết số tiền đánh bạc.

-Một số đối tượng không rõ nhân thân đánh bạc với số tiền 60.000 đồng. Tất cả đều thua hết số tiền đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Trịnh Thị Thanh N vào ngày 07/11/2023 là 6.828.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS-ĐX ngày 05/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy các bị cáo Trịnh Thị Thanh Nhã, Tống Thị H2 về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

* Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã nêu. Kết luận các bị cáo Trịnh Thị Thanh N, Tống Thị H2 phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Trịnh Thị Thanh N, Tống Thị H2; áp dụng khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đối với bị cáo N, áp dụng Điều 36 BLHS đối với bị cáo H2. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung bị cáo N 10.000.000đ. Đề nghị xử phạt bị cáo Tống Thị H2 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án và phạt bổ sung bị cáo H2 10.000.000đ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo H2.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 11.915.000₫ (Mười một triệu, chín trăm mười lăm nghìn đồng) được xác định sử dụng vào việc đánh bạc, tiền thu lợi bất chính bị cáo tự nguyện giao nộp và các điện thoại di động của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

+ Trả lại xe mô tô cho bị cáo N vì không phải là phương tiện phạm tội.

* Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, các bị cáo không tranh luận gì, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 BLTTHS.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và các vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở kết luận: Lúc 17h40' ngày 07/11/2023 tại thôn D- xã X- huyện Đ, Công an xã X bắt quả tang Trịnh Thị Thanh N đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề cho Tống Thị H2, Mang D, Mang Tìm, Mang Thị Ú1 và một số đối tượng không xác định được nhân thân. Tổng số tiền đánh bạc của N là 6.828.000 đồng, của H2 là 6.660.000 đồng, nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 12/CT-VKSĐX ngày 05/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, hậu quả, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ pháp luật nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề, nhằm mục đích ăn thua nhau bằng tiền. Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội ở cộng đồng dân cư. Trong vụ án này, bị cáo N là người nhận ghi đề và ăn thua với nhiều người nên mức án đối với bị cáo là cao hơn so với bị cáo H2. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà các bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo N có hai con thì đều đã chết vì tai nạn giao thông và đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính các ngày trước đó. Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo N, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H2 cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Các bị cáo đều không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Bị cáo Tống Thị H2 đã bị áp dụng hình phạt bổ sung nên xét miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[4] Đối với hành vi của những người tham gia đánh bạc khác:

- Đối với Mang H3, Mang Tìm, Mang D và Mang Thị Ú1: Tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng và không có yếu tố định tội khác nên hành vi không cấu thành tội phạm. UBND huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

- Đối với một số đối tượng đánh bạc với bị can Trịnh Thị Thanh N vào các ngày 05/11/2023, 06/11/2023 và 07/11/2023: Do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

- Đối với hành vi đánh bạc của Trịnh Thị Thanh N và Tống Thị H2 vào ngày 05/11/2023 và 06/11/2023: Do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không có yếu tố định tội khác nên hành vi không cấu thành tội phạm. UBND huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

- Đối với hành vi đánh bạc trước ngày 05/11/2023 của Trịnh Thị Thanh N và Tống Thị H2: Do không xác định được số tiền đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý.

[5] Về vật chứng vụ án:

- Tiền Việt Nam, tổng cộng: 11.915.000 đồng (mười một triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó: Tạm giữ khi lập biên bản kiểm tra phát hiện vụ việc, số tiền: 7.127.000 đồng (bảy triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng) của Trịnh Thị Thanh N, Tạm giữ trong quá trình điều tra: 4.788.000 đồng (bốn triệu bảy trăn sáu mươi bốn nghìn đồng), trong đó: Trịnh Thị Thanh N giao nộp 815.000 đồng; Tống Thị H2 giao nộp 3.903.000 đồng; Mang H3 giao nộp: 70.000 đồng được xác định sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính bị cáo N tự nguyện giao nộp, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 03 điện thoại di động: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen model: TA-1174; số code: 23KiG74VN00 bên trong có gắn sim số thuê bao 0328.865.842 và 0349.085.189 của Trịnh Thị Thanh N; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A51W, màu trắng, số phiên bản: A51Wex_11_161028, bên trong có gắn sim số thuê bao: 0365.099.530 của Trịnh Thị Thanh N; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số máy: MNC32LL/A, số sê ri: I72SD45CHG71, số I: 359167073024923, bên trong có gắn sim số thuê bao 0399.946.577 của Tống Thị H2, đây là các điện thoại các bị cáo dùng để gọi điện nhắn tin đánh bạc với nhau, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 78H4-5613, số máy 150FMG00044046; số khung CG064HH044046 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0050249 của xe mô tô biển số 78H4-5613 của Trịnh Thị Thanh N, xét thấy không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội hoặc có liên quan đến hoạt động phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Thị Thanh N, Tống Thị H2 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Trịnh Thị Thanh N, Tống Thị H2; áp dụng khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đối với bị cáo N; áp dụng Điều 36 BLHS đối với bị cáo H2.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Thanh N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo N 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Giao bị cáo Trịnh Thị Thanh N cho UBND xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục các bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Tống Thị H2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo H2 10.000.000đ (mười triệu đồng), miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Tống Thị H2 cho UBND xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ của người bị kết cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Ngân hàng N2 11.915.000 đồng (mười một triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen model: TA-1174; số code: 23KiG74VN00 bên trong có gắn sim số thuê bao 0328.865.842 và 0349.085.189 của Trịnh Thị Thanh N; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A51W, màu trắng, số phiên bản: A51Wex_11_161028, bên trong có gắn sim số thuê bao: 0365.099.530 của Trịnh Thị Thanh N; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số máy: MNC32LL/A, số sê ri: I72SD45CHG71, số I: 359167073024923, bên trong có gắn sim số thuê bao 0399.946.577 của Tống Thị H2.

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Thị Thanh N: 01 xe mô tô biển số 78H4-5613, số máy 150FMG00044046; số khung CG064HH044046 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0050249 của xe mô tô biển số 78H4-5613.

(Số tiền theo ủy nhiệm chi số 08 lập ngày 17/6/2024 do Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân; Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục THADS huyện Đ).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trịnh Thị Thanh N, Tống Thị H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên (P.KT-NV);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - CC THADS huyện Đ;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Vĩnh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger