Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-PT

Ngày: 15/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Phạm Uyên Thy.
  2. Bà Đoàn Thị Hương Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 471/2023/HSPT ngày 13/12/2023 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 257/2023/HS-ST ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1989 tại Quảng Bình; nơi thường trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở: I khu dân cư S, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Q; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 05/11/2022 (có mặt).
  2. Lê Trọng H, sinh năm 1990 tại Đồng Nai; nơi thường trú: 2/16 Khu phố H, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phát T1 và bà Lý Thị Mai L; có vợ và 04 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/12/2009 bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị bắt, tạm giam ngày 05/11/2022 (có mặt).

Trong vụ án này, còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Trần Trường X, ông Lê Trung C, ông Nguyễn Công A, ông Trước Đắc T2, bà Nguyễn Bền P, bà Choóng Và D, bà Nguyễn Thanh N, bà Trần Thị Diễm M có liên quan đến kháng cáo nhưng xét thấy không cần thiết phải có mặt tham dự phiên tòa nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 05/11/2022, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B phối hợp Công an xã B, huyện B tiến hành kiểm tra căn hộ B24.08 chung cư S, đường số I, khu dân cư T, Ấp D, xã B, huyện B. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng ngủ của căn hộ có Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, Nguyễn Công A, Trần Thị Diễm M, Trương Đắc T3, Lê Trung C, C1 Và D, Nguyễn Thanh N và Nguyễn Bền P. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trên bàn trong phòng ngủ có 01 đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu cam, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ được cuộn tròn. Nguyễn Ngọc VLê Trọng H khai nhận số chất bột màu trắng và mảnh vụn viên nén màu cam là ma túy tổng hợp (loại khay và thuốc lắc), VH mua và cung cấp cho cả nhóm cùng sử dụng nên Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với VH. Đồng thời, thu giữ niêm phong tang vật và đưa tất cả về trụ sở lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra xử lý. Kết quả xét nghiệm ma túy thể hiện: Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, Nguyễn Công A, Lê Trung C, Nguyễn Thanh N, C1 Và D dương tính với chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số: 6425/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hìn sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Bột màu trắng trong 02 gói nylon có tổng khối lượng 2,0163g, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine; nhiều mảnh vụn viên nén màu cam trong 01 gói nylon có tổng khối lượng 1,8778g, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra:

Nguyễn Ngọc V khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 ngày 04/11/2022, V đang ở tại địa chỉ I KDC S thuộc Khu phố B, phường P, Quận G thì Lê Trọng H nhắn tin rủ V tìm nơi sử dụng ma túy chung với H cùng bạn của H, có tiếp viên nữ phục vụ thì V đồng ý. V liên lạc với một người tên Duy A1 (không rõ lai lịch) qua zalo để thuê 01 căn hộ tại chung cư S. Liên lạc xong, H cùng Lê Trung C, Nguyễn Công A đi xe ô tô đến rước V rồi tất cả đến chung cư S. Tại đây, V gặp Duy A1 và thống nhất giá thuê căn hộ B24.08 là 4.500.000 đồng, tiền mua ma túy là 2.500.000 đồng. Do không có tiền nên V kêu H chuyển khoản trả tiền phòng và tiền mua ma túy cho Duy A1, xong Duy A1 đưa V, H, Công AC lên căn hộ B. Tại đây, Duy A1 bật đèn, loa và đem dĩa, thẻ nhựa, tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn để trên bàn. V tiếp tục yêu cầu Duy A1 gọi nhân viên nữ lên phục vụ, sử dụng ma túy chung và có quan hệ tình dục thì Duy A1 đồng ý. Sau đó, Duy A1 kêu người đem 01 bịch ma túy đến đưa cho V và kêu nhân viên nữ lên phục vụ và sử dụng ma túy chung với VH cùng nhóm bạn. Sau khi nhận ma túy, V mở bịch ma túy ra mang vào phòng ngủ, bẻ 1/2 viên thuốc lắc uống với nước ngọt và bỏ ma túy ra dĩa để lên bàn trong phòng ngủ cho mọi người sử dụng. Sau đó, C gọi điện thoại rủ Nguyễn Thanh N đến chơi. Khi tất cả đang sử dụng ma túy trong phòng thì bị kiểm tra, bắt quả tang như trên. Số ma túy còn lại trên bàn là của VH mua, mục đích cất giữ để tiếp tục sử dụng cùng nhóm bạn.

Lê Trọng H khai nhận phù hợp với lời khai của V, V là người liên lạc đặt thuê phòng và mua ma túy, còn H là người chuyển khoản trả số tiền trên cho một người tên Duy A1. Tại phòng B24.08, H có sử dụng 1/2 viên thuốc lắc nhưng thấy mệt nên H gọi điện thoại cho Trương Đắc T3 đến để chở H về. Khi T3 đến, H chưa về và đang có mặt tại phòng B24.08 thì bị kiểm tra, bắt quả tang. Số ma túy còn lại trên bàn là của VH mua để tiếp tục sử dụng. Trương Đắc T3 khai nhận vào ngày 05/11/2022, H có liên lạc qua Zalo nhờ T3 đến chung cư S để chở H về. T3 đến căn hộ B24.08 và ngồi ở phòng khách chờ. T3 không biết việc mọi người sử dụng ma túy và T3 không sử dụng ma túy chung với những người này, kết quả xét nghiệm thể hiện T3 âm tính với chất ma túy.

Nguyễn Công A khai nhận: khoảng 23 giờ ngày 04/11/2022, Công A cùng Lê Trọng H, Lê Trang C2 đang nhậu ở quận B thì V gọi điện thoại rủ cả 3 qua Quận G nhậu thì cả 3 đồng ý. Công Anh điều khiển ô tô chở HC2 qua Quận G gặp V. Do mệt nên V thay Công A lái xe ô tô còn Công A ngủ trên xe. Khi thức dậy, Công A mới biết đã đến chung cư S và được một người đàn ông dẫn lên phòng B24.08, khi vào phòng Công A nằm ngủ tiếp do say rượu. Sau khi nghe tiếng nhạc, Công A thức dậy và thấy có ma túy trên bàn nên đã sử dụng 01 viên ma túy (dạng kẹo) rồi vào phòng ngủ. Công Anh không biết nguồn gốc số ma túy là của ai và không rõ những ai đã sử dụng ma túy tại đây.

Lê Trung C khai nhận phù hợp với lời khai của Công A, VH. Tại căn hộ B, C đã sử dụng ma túy khay và kẹo nhưng không biết nguồn gốc ma túy là của ai cho đến khi lực lượng Công an vào kiểm tra. C cũng là người đã gọi Nguyễn Thanh N tới căn hộ B để chơi với C nhưng không rủ N sử dụng ma túy. Nguyễn Thanh N khai nhận: N được Lê Trung C gọi đến căn hộ B để chơi, C không rủ N đến sử dụng ma túy. Tuy nhiên, khi vào phòng ngủ thấy có ma túy nên đã tự sử dụng 02 đường ma túy dạng khay. N không biết nguồn gốc số ma túy này của ai. Ngoài ra, N còn gọi cho Trần Thị Diễm M đến chơi nhưng không rủ M sử dụng ma túy. Trần Thị Diễm M khai nhận được N rủ đến căn hộ B24.08 để chơi, không rủ sử dụng ma túy, M không biết nguồn gốc số ma túy bị tạm giữ và không biết căn hộ này do ai thuê.

Choóng Và D khai nhận: ngày 05/11/2022, thông qua mối quan hệ xã hội Dinh được một người tên “Gấu” (không rõ lai lịch) kêu DNguyễn Bền P đến căn hộ B chung cư S để phục vụ cho khách chơi ma túy. Khi DP vừa lên căn hộ, chưa kịp sử dụng ma túy thì bị kiểm tra, đưa về trụ sở làm việc. Dinh không biết nguồn gốc số ma túy là của ai và không biết ai là người thuê căn hộ B24.08. Ngoài ra, D khai nhận đã sử dụng ma túy được khoảng 01 năm, lần gần nhất là 03 ngày trước khi bị bắt. Nguyễn Bền P khai nhận phù hợp với lời khai của D.

Vật chứng vụ án:

  • - Thu giữ tại căn hộ: 02 bịch nylon chứa chất bột màu trắng, 01 bịch nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu cam là ma túy còn lại sau giám định; 01 dĩa sứ màu trắng; 01 đoạn ống nhựa, một đầu cắt nhọn; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn.
  • - Thu giữ của Nguyễn Ngọc V: 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim có số 03336212213.
  • - Thu giữ của Lê Trọng H 01 điện thoại di động hiệu S cùng 01 sim có số 8105.
  • - Thu giữ của C1 Và Dinh 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max cùng 01 sim có số....95489.

Tại bản Cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 28/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 257/2023/HS-ST ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã quyết định:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2022.
  • Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc V số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước;
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trọng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2022.
  • Phạt bổ sung bị cáo Lê Trọng H số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước;

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/11/2023, các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H đã thừa nhận những hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Các bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về gia đình và hòa nhập xã hội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tại phiên tòa các bị cáo mong muốn được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không nêu thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, bản thân các bị cáo là người trực tiếp thuê căn hộ và mua ma túy về để những người khác cùng sử dụng, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với từng bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về gia đình, hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận huyện Bình Chánh, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H đã thừa nhận hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: Khoảng 21 giờ 30 ngày 04/11/2022, Lê Trọng H nhắn tin rủ Nguyễn Ngọc V tìm nơi sử dụng ma túy chung với H và bạn của H, có tiếp viên nữ phục vụ thì V đồng ý. V liên lạc với một người tên Duy A1 (không rõ lai lịch) qua zalo để thuê 01 căn hộ B chung cư S, đường số I, khu dân cư T, Ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, H cùng Lê Trung C, Nguyễn Công A đi xe ô tô đến rước V. Tại đây, V gặp Duy A1 và thống nhất giá thuê căn hộ B24.08 là 4.500.000 đồng, tiền mua ma túy là 2.500.000 đồng, V kêu H chuyển khoản trả tiền cho Duy A1 rồi cả nhóm lên căn hộ B. Tại đây, Duy A1 bật đèn, loa và đem dĩa, thẻ nhựa, tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn để trên bàn, V tiếp tục yêu cầu Duy A1 gọi nhân viên nữ lên phục vụ, sử dụng ma túy chung. Sau đó, Duy A1 kêu người đem 01 bịch ma túy đến đưa cho V và kêu nhân viên nữ lên phục vụ, sử dụng ma túy chung với VH cùng nhóm bạn. Sau khi nhận ma túy, V mở bịch ma túy ra mang vào phòng ngủ, bẻ 1/2 viên thuốc lắc uống với nước ngọt và bỏ ma túy ra dĩa đê lên bàn trong phòng ngủ cho mọi người sử dụng. Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 05/11/2022, khi Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, Nguyễn Công A, Trần Thị Diễm M, Trương Đắc T3, Lê Trung C, C1 Và D, Nguyễn Thanh N và Nguyễn Bền P đang sử dụng ma túy thì bị kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên bàn trong phòng ngủ 01 đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu cam, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ được cuộn tròn.

Kết quả giám định, 02 gói nylon có tổng khối lượng 2,0163g, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine; nhiều mảnh vụn viên nén màu cam trong 01 gói nylon có tổng khối lượng 1,8778g, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA (theo kết luận giám định số: 6425/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh). Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H khai nhận số ma túy còn lại này là của VH mua, cất giữ để tiếp tục sử dụng cùng nhóm bạn. Kết quả xét nghiệm thể hiện: Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, Nguyễn Công A, Lê Trung C, Nguyễn Thanh N, C1 Và D dương tính với chất ma túy.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đã xem xét, đánh giá nhân thân, tính chất mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Từ đó, xử phạt bị cáo Lê Trọng H mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V mức án 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

[4] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H kháng cáo, mong muốn được giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Do không chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 257/2023/HS-ST ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trọng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2022.
  2. Phạt bổ sung bị cáo Lê Trọng H số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2022.
  4. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc V số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Lê Trọng H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - VKSND huyện Bình Chánh; (1)
  • - CC THA huyện Bình Chánh; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Trại giam; (4)
  • - TAND huyện Bình Chánh; (2)
  • - Công an huyện Bình Chánh; (1)
  • - Phòng PV06-CA TP.HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Lưu, hình sự, hồ sơ (24) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-PT ngày 15/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 15/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger