|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày 29-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm và ông Nguyễn Văn Luận
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh: Ông Nguyễn Quang Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 29-8-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2024, về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2024/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1989
Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phú N, sinh năm: 1987
Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Chị Trần Thị H với anh Nguyễn Phú N tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2013, tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được hơn 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do anh Nguyễn Phú N không có trách nhiệm với gia đình hay rượu chè, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình và con cái nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. Hai bên đã nhiều lần được hai bên gia đình nội, ngoại hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng ly thân cũng đã lâu từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Nay, chị Trần Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Phú N; Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phú N1, sinh ngày: 26/4/2017 và cháu Nguyễn Phú Q, sinh ngày: 26/3/2014. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu Nguyễn Phú N1 sinh sống cùng với chị H ở Ký túc xá trường Tiểu học, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Còn cháu Nguyễn Phú Q sinh sống với anh N tại tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú N1 và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Q có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn nên chị tôn trọng ý kiến của cháu Q, đồng ý giao cháu Q cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Nguyễn Phú N trình bày:
Anh Nguyễn Phú N nhất trí như những gì chị Trần Thị H đã trình bày về quá trình đi đến hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng. Anh cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến nỗi trầm trọng và anh nhận thấy tình cảm giữa anh với chị H vẫn đang còn nên anh Nguyễn Phú N không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, nuôi dạy con cái; Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 02 con chung như chị H đã trình bày. Nếu ly hôn, anh Nguyễn Phú N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú Q và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu Nguyễn Phú N1 đang sinh sống cùng chị H, cháu đang còn nhỏ cần được sự chăm sóc của người mẹ nên anh Nguyễn Phú N đồng ý để chị Trần Thị H trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú N1; Về tài sản và nợ: Anh N cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Phú N đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án và đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng; Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Phú N; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phú N1, sinh ngày: 26/4/2017 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Phú Q, sinh ngày: 26/3/2014 cho anh Nguyễn Phú N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Phú N về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Xử buộc chị Trần Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị H có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Phú N, yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Phú N co nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Anh Nguyễn Phú N đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Anh Nguyễn Phú N vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa hôm nay. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hôn nhân:
Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Phú N tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2013, tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được hơn 02 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do anh Nguyễn Phú N không có trách nhiệm với gia đình hay rượu chè, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình và con cái nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. Hai bên đã nhiều lần được hai bên gia đình nội, ngoại hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Hiện nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Do đó, nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Phú N không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Phú N.
[2.2]. Về con chung:
Quá trình hôn nhân, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Phú N có 02 con chung là cháu Nguyễn Phú N1, sinh ngày: 26/4/2017 và cháu Nguyễn Phú Q, sinh ngày: 26/3/2014. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về con chung. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Giao cháu Nguyễn Phú N1 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Giao cháu Nguyễn Phú Q cho anh Nguyễn Phú N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Các bên đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3]. Về tài sản, nợ chung: Hai đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Phú N
- Về nuôi con chung:
Giao cháu Nguyễn Phú N1, sinh ngày: 26/4/2017 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu thành niên (đủ18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Nguyễn Phú Q, sinh ngày: 26/3/2014 cho anh Nguyễn Phú N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu thành niên (đủ18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Phú N về việc không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hướng xấu đến đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0014697 ngày 11-6-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Chị Trần Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Tư |
Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 15/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 15
