Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-ST

Ngày: 26/4/2024

Về kiện đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, bà Hoàng Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2023 về kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị X, sinh năm 1957.

ĐKHKTT: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ liên hệ: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1974.

ĐKHKTT: Số B B, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Nơi làm việc: Công ty L có địa chỉ đăng ký hoạt động tại số F phố T, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa có mặt bà X; vắng mặt ông T, ông B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị X trình bày: Năm 2018, bà thuê ông Hoàng Xuân T- Luật sư của Công ty L là người bào chữa cho con trai bà trong một vụ án xảy ra ở tỉnh Sơn La. Khi vụ án được đưa ra xét xử, bà muốn mang theo tiền để kịp thời bồi thường hoặc khắc phục hậu quả thay con khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nhưng do đường xa, sợ cầm tiền mặt trong người sẽ không an toàn nên bà đã nhờ ông T cầm hộ số tiền 125.000.000đ. Ông T yêu cầu bà phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của ông ấy nên bà đã nhờ ông Phạm Thanh B (chồng bà X) ra ngân hàng chuyển toàn bộ số tiền 125.000.000đ vào số tài khoản 0341001827728 của ông T mở tại Ngân hàng TMCP N1. Sau đó con trai bà không phải nộp tiền bồi thường hoặc khắc phục hậu quả nên bà không sử dụng đến số tiền đã gửi ông T. Ông T đã trả lại cho bà số tiền 100.000.000đ (thông qua tài khoản của chị Vũ Thị N). Bà nhiều lần yêu cầu ông T phải trả lại cho bà số tiền 25.000.000đ còn lại nhưng cho đến nay ông T không thực hiện. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại bà số tiền 25.000.000đ.

Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn là ông Hoàng Xuân T đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người làm chứng là ông Phạm Thanh B trình bày: Bà X đưa cho ông số tiền 125.000.000₫ bằng tiền mặt và nhờ ông ra ngân hàng chuyển vào tài khoản của ông T. Ông trực tiếp đến ngân hàng A chi nhánh huyện L- Bắc Giang II và chuyển đủ số tiền 125.000.000đ vào tài khoản số 0341001827728 ông T. Việc chuyển tiền có chứng từ giao dịch của ngân hàng và ông đã đưa lại chứng từ này cho bà X. Ông xác định số tiền trên là tài sản riêng của bà X, ông không có quyền lợi gì.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyện đơn. Buộc ông Hoàng Xuân T phải trả cho bà Lê Thị X số tiền 25.000.000đ. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Từ trình bày của bà Lê Thị X, ông Phạm Thanh B, đối chiếu với các tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án là chứng từ giao dịch của Ngân hàng N2 chi nhánh huyện L- Bắc Giang II và sao kê tài khoản số 0341001827728 đứng tên ông Hoàng Xuân T mở tại Ngân hàng TMCP N1 chi nhánh C có đủ cơ sở xác định ngày 15/5/2020, ông B đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông T số tiền 125.000.000đ. Bà X và ông B thống nhất xác nhận số tiền 125.000.000đ nói trên thuộc quyền sở hữu riêng của bà X. Bà X trình bày đó là tiền bà nhờ ông T cầm hộ và cung cấp các tài liệu chứng minh số tiền đó không liên quan đến chi phí bà thuê ông T tham gia bào chữa cho con trai bà. Trong khi đó ông T không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa hai bên có xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ của bà X phải thanh toán cho ông số tiền 125.000.000đ. Như vậy giữa bà X và ông T đã xác lập giao dịch gửi giữ tài sản không xác định thời hạn, không thỏa thuận về bên gửi tài sản là bà X phải trả tiền công cho bên giữ tài sản là ông T. Bà X nhiều lần yêu cầu ông T trả lại cho bà số tiền đã gửi và xác nhận đã được ông T hoàn trả số tiền 100.000.000đ. Nay bà X khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền 25.000.000đ còn lại là có cơ sở và được chấp nhận.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bà X là người cao tuổi và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không phải giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 274, 275, 280, 554, 556, 557, 559 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc ông Hoàng Xuân T phải trả bà Lê Thị X số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Ông Hoàng Xuân T phải chịu 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn phòng Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà X kiện đòi tiền anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger