TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH ——— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 15/2024/DS-ST
Ngày 01 tháng 10 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông: Ngô Đình Vinh
Ông Nguyễn Xuân Tào
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 30/9/2024 đến ngày 01/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Lê Văn H
Sinh năm: 1990
Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thúy A
Địa chỉ: Số B V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
Bà: Đặng Thị Phương A1
Địa chỉ: Công ty TNHH Hà Châu - Đoàn luật sư tỉnh H.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Oanh
Sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (ngày 30/9/2024 có mặt, ngày 01/10/2024 vắng mặt)
- Ông: Nguyễn Trọng L
Sinh năm: 1965
Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (ngày 30/9/2024 có mặt, ngày 01/10/2024 vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà: Trịnh Thị Hồng K
Sinh năm: 1936
Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin vắng mặt)
Người làm chứng
- Ông: Nguyễn Văn Xuân
Sinh năm: 1985
Địa chỉ: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- Ông: Trần Văn T
Sinh năm: 1977
Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Ông: Đặng Trọng Thiết
Sinh năm: 1988
Địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 18/7/2022, ông Lê Văn H có ký hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị O nhằm đảm bảo cho việc chuyển nhượng thửa đất số 08, tờ bản đồ số 39, có diện tích 1.981,3m² (trong đó: 250m² đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, bà Nguyễn Thị O có đưa cho ông Lê Văn H xem một bản trích đo thửa đất. Hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng thửa đất trên là 5.430.000.000 (năm tỷ bốn trăm ba mươi triệu) đồng. Để đảm bảo cho việc chuyển nhượng, ông Lê Văn H đã đặt cọc cho bà Nguyễn Thị O số tiền là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Thời hạn đặt cọc là 45 ngày kể từ ngày 18/7/2024 đến hết ngày 02/9/2024. Hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận của hai bên và của người làm chứng là ông Đặng Trọng T1.
Đến ngày 02/09/2022, ông Lê Văn H đến nhà bà Nguyễn Thị O để thanh toán số tiền còn lại cho bà O và tiến hành ký kết công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi ông Lê Văn H yêu cầu bà O cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm hợp đồng thì bà Nguyễn Thị O đưa ra một giấy chứng nhận quyền sử đất của thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32 với diện tích 662,6m² mang tên bà Trịnh Thị Hồng K. Lúc này, ông Lê Văn H phát hiện thửa đất nhận đặt cọc và thửa đất trên giấy chứng nhận khác nhau và có diện tích ít hơn trong hợp đồng đặt cọc nên ông Lê Văn H yêu cầu bà Nguyễn Thị O cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc ngày 18/07/2022 như đã ký kết nhưng bà O không cung cấp được nên ông H đã yêu cầu bà Nguyễn Thị O trả lại số tiền đặt cọc mà bà O đã nhận của ông H.
Do các bên không thể hoà giải được nên ông Lê Văn H đã làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh để đề nghị Toà án giải quyết:
+ Tuyên vô hiệu Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/07/2022 giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị O.
+ Buộc bà Nguyễn Thị O trả lại cho ông Lê Văn H số tiền cọc đã nhận là 500.000.000đ (năm trăm triệu) đồng. Đồng thời, buộc bà Nguyễn Thị O phải bồi thường cho ông Lê Văn H số tiền lãi do chậm thanh toán tiền đặt cọc với số tiền là: 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Tổng số tiền mà ông Lê Văn H yêu cầu bà Nguyễn Thị O phải thanh toán là 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng
Tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu bà O thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán là 50.000.000₫ mà chỉ yêu cầu bà O thanh toán số tiền đã đặt cọc 500.000.000₫
Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Lê Văn H và người đại diện theo uỷ quyền đã giao nộp các tài liệu chứng cứ: Hợp đồng đặt cọc ngày 03/04/2022 và ngày 18/07/2022 (02 bản gốc); Giấy biên nhận tiền ngày 03/04/2022 và ngày 18/07/2022; Bản sao chứng minh nhân dân anh H; Bản sao sổ hộ khẩu gia đình (01 bản); Vi bằng của văn phòng T2; văn bản ủy quyền ngày 13/09/2022; giấy ủy quyền ngày 26/06/2024; bản tự khai.
- Tại các bản tự khai, biên bản công khai chứng cứ, hòa giải bị đơn bà Nguyễn Thị O trình bày:
Bà O thừa nhận ngày 18/07/2022 bà và ông L ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất như người đại diện theo ủy quyền của anh H trình bày nhưng tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng đồng đặt cọc thì chỉ có bà O là người đứng ra giao dịch với anh H bán thửa đất của mẹ bà O là bà Trịnh Thị Hồng K, tổng diện tích 1931,8m² (theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/03/2022), thửa đất đó do bà Trịnh Thị Hồng K quản lý và sử dụng dụng từ lâu, được nhà công nhận (chưa có bìa nhưng đã có diện tích đo đạc), hai bên ký kết và đồng ý sẽ làm bìa khi đến thời hạn đặt cọc và trồng đủ số tiền gốc như đã thống nhất mua bán. Sau khi ký kết hợp đồng quá thời hạn cam kết (45 ngày) như trong hợp đồng đặt cọc thì bà Nguyễn Thị O không thấy anh H vào giao dịch để làm thủ tục mua bán đất, đến thời điểm bà Nguyễn Thị O đã có bìa trước thời hạn cam kết thì nhiều lần bà Nguyễn Thị O đã liên hệ bằng hình thức gọi điện và nhắn tin nhưng anh H không nghe máy và không trả lời, cho đến 02/09/2022 anh H có vào làm việc và bảo xin khất lại tiền mua đất, thời gian sau thì thấy anh H nộp đơn lên Công an tố giác về việc bà Nguyễn Thị O lừa đảo và đồng thời nộp đơn lên Tòa án khởi kiện yêu cầu hợp đồng đặt cọc. Bà Nguyễn Thị O không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H, hiện tại bà Nguyễn Thị O vẫn đồng ý bán đất đó cho anh H nếu anh H không đồng ý lấy thửa đất đó thì hợp đồng đặt cọc đó bị hủy và bà Nguyễn Thị O không hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc (hợp đồng ngày 18/07/2024.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình, bị đơn bà Nguyễn Thị O đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ bao gồm: Bản pho tô căn cước công dân bà O, giấy ủy quyền của bà Trịnh Thị Hồng K ngày 06/03/2022; bản sao tin nhắn từ M; đo đạc hiện trạng thửa đất tờ số 32 ngày 01/03/2021; Bản tự khai.
Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị O cũng không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn và yêu cầu Toà án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại các bản tự khai, biên bản công khai chứng cứ, hòa giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng L trình bày:
Vào ngày 18/7/2022, anh Lê Văn H có vào mua đất của bà Nguyễn Thị O và nhờ ông Nguyễn Trọng L làm chứng cho việc anh Lê Văn H đặt cọc số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng), việc trên hợp đồng đặt cọc ghi bên bán có tên của ông Nguyễn Trọng L là do người viết hợp đồng chứ ông L và bà O không liên quan gì đến đất đai tài sản và mối quan hệ pháp luật nào cả, giữa tôi và bà O chỉ là chủ và người làm công và ông Nguyễn Trọng L hoàn toàn không biết việc đất đai và giao dịch giữa bà O và anh H.
- Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản công khai chứng cứ, hòa giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Hồng K trình bày:
Bà K là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị O, vào ngày 18/7/2022, bà K có chứng kiến việc anh H và chị O ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất, còn trong nội dung hợp đồng cũng như các buổi làm việc sau này giữa chị O và anh H như thế nào thì bà K không biết. trên thực tế bà K có một thửa đất tại tờ số 32, tổng diện tích là 1931,8m² địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do không có nhu cầu sử dụng nữa và vì tuổi cao sức khoẻ yếu và tinh thần không minh mẫn nên vào ngày 06/3/2022, bà K đã uỷ quyền lại cho chị O thay mặt bà K để bán thửa đất này. Còn thửa đất số 08, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 1931,8m² địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì bà K không có.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình bà Trịnh Thị Hồng K đã cung cấp các tài liệu chứng cứ là hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh phát biểu tại phiên toà:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử là đúng theo Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đảm bảo theo đúng quy định pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 74, 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; mục 1 phần I Nghị Quyết số 01/2003/NQ – HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình
Căn cứ Điều 116, 117, 122, 127, 132, 328, 385, 401, 407, 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6, điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo,
Đề nghị HĐXX tuyên hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị O vô hiệu do đối tượng của Hợp đồng không thể thực hiện được.
Kiểm sát viên đề nghị HĐXX tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hợp đặt cọc giữa các cá nhân với cá nhân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn cư trú tại: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn vào ngày 18/7/2022. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, do đó Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục xem xét giải quyết vụ án về: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định của pháp luật.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, Hội đồng xét xử thấy:
Các đương sự đều thừa nhận vào ngày 18/7/2022, nguyên đơn ông Lê Văn H và bị đơn bà Nguyễn Thị O ký kết Hợp đồng đặt cọc với nội dung: bà Nguyễn Thị O chuyển nhượng cho ông Lê Văn H một thửa đất có địa chỉ là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 1931,8m² địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh với giá 5.430.000.000đ (năm tỷ bốn trăm ba mươi triệu đồng). Ông Lê Văn H đạt cọc trước số tiền là 500.000.000đ, hẹn 45 sau ngày thanh toán dứt điểm, nếu ông H không thanh toán thì mất tiền cọc, bà O cam kết thửa đất trên là chính chủ, không có tranh chấp nếu không sẽ trả lại tiền cọc và phạt cọc.
Quá trình giải quyết, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn đã được xem bản trích đo thửa đất do bị đơn cung cấp là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 39 với diện tích 1.981,3m2. Sau khi ký kết hợp đồng bị đơn nhận số tiền 500.000.000đ tiền đặt cọc của nguyên đơn. Tuy nhiên thửa đất này đến tại thời điểm hết thời hạn hợp đồng đặt cọc (02/9/2022) thì bà bà O chỉ đưa cho anh H một giấy chứng nhận quyền sử đất của thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32 với diện tích 662,6m² mang tên bà Trịnh Thị Hồng K. Đến tại phiên toà bà O thừa nhận cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị O có diện tích 1.981.3m2. Đối chiều với hợp đồng đặt cọc ngày 18/7/2022, đối chiếu với đối tượng hợp đồng đã ký kết là trích đo thửa đất số 08, tờ bản đồ số 39, có diện tích 1.981,3m2. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng đặt cọc giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị O là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 và theo quy định tại Điều 122, Điều 408 Bộ luật Dân sự. Nên hợp đồng đặt cọc đề ngày 18/7/2022 giữa ông H và bà O bị vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”; căn cứ khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.” các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nguyên đơn không phải bồi thường tiền đặt cọc cho bị đơn. Bị đơn đã nhận của nguyên đơn số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn chỉ phải trả lại cho nguyên đơn 500.000.000 đồng là có căn cứ.
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là buộc bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Trọng L trả lại số tiền đặt cọc. Tại phiên toà, sau khi Hội đồng xét xử làm rõ mối quan hệ giữa bà O và ông L. Ông L chỉ là người làm công cho bà O, không có quan hệ tài sản và quan hệ vợ chồng với bà O. Việc ông L ký vào hợp đồng đặt cọc ngày 18/7/2022 là do bên anh H yêu cầu ký. chứ ông L không biết gì. Bà O cũng thừa nhận với nội dung trên là đúng. đồng thời bà O đề nghị khởi kiện một mình bà O và bà O chịu hoàn toàn trách nhiệm về vụ án này. Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đồng ý khởi kiện một mình bà O. Hội đồng xét xử xét thấy sự thoả thuận này là có căn cứ nên chấp nhận. Nên buộc bà một mình bà Nguyễn Thị O trả lại số tiền 500.000.000đ cho anh Lê Văn H.
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng và phải chịu bồi thường số tiền tương đương 10%/năm của số tiền đã đặt cọc. Nhưng tại phiên toà, đại diên uỷ quyền của nguyên đơn. ngừoi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu này. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử yêu cầu này.
[4] Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo, bị đơn Nguyễn Thị O phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Trả lại cho nguyên đơn Lê Văn H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 74, 147, khoản 2 điều 227, điều 235; Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 116, 117, 122, 127, 132, 328, 385, 401, 407, 408; 357, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo,
X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
- Hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị O vô hiệu
- Buộc bà Nguyễn Thị O phải trả cho ông Lê Văn H số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn, về việc đề nghị O thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán là 50.000.000đ. Nếu sau này có tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị O phải nộp 24.000.000đ (hai mươi tư triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Lê Văn H số tiền. 13.000.000đ (Bằng chữ: mười ba triệu đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005310 ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết bản án./.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN QUANG DŨNG |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông H và bà O tranh chấp HDĐC
