Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DSPT

Ngày: 10/01/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chế Linh.

Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 412/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2023/DSST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 543/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tăng Thành X, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số A, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên hệ: Số I Đường số A, Công ty X1, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Quốc N – Công ty TNHH B2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

Bị đơn: Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Nguyễn Văn Quốc S, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Ông Đỗ Minh N1, sinh năm 1998; địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

(Hợp đồng ủy quyền ngày 25/12/2023 tại Văn phòng C).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Thanh P, sinh năm 1945.
  2. Bà Thái Thị B, sinh năm 1947.

Cùng nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  1. Trần Anh T, sinh ngày 10/02/2011.
  2. Trần Tấn P1, sinh ngày 28/3/2015.
  3. Trần Phước T1, sinh ngày 08/6/2022.
  4. Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1980.

Bà V đồng thời là người giám hộ cho các cháu T, P1 và T1.

Cùng nơi cư trú: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu T, P1 và T1.

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 23/5/2022 và ngày 01/12/2022 ông Tăng Thành X trình bày:

Do chỗ bạn bè lâu năm và có sự tin tưởng, nên ông có cho ông Trần Hoài B1, bà Đoàn Thị Cẩm V mượn số tiền 1.850.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh xăng dầu và mở phòng nha khoa. Ông đặt điều kiện, khi nào cần tiền sẽ thông báo cho vợ chồng ông B1, bà V hay trước 01 tháng để trả lại tiền. Mỗi lần nhận tiền, vợ chồng ông B1, bà V đều có viết giấy mượn tiền và kèm theo chứng minh nhân dân (bản sao) cho ông giữ làm tin. Ông cho vợ chồng ông B1, bà V lần lượt mượn tiền như sau:

  • Ngày 29/6/2017, mượn 100.000.000 đồng;
  • Ngày04/7/2019, mượn 850.000.000đồng;
  • Ngày 05/4/2020, mượn 600.000.000đồng;
  • Ngày 15/11/2020, mượn 300.000.000đồng.

Đến tháng 5/2021, do cần tiền nên đã thông báo cho ông B1, bà V biết. Sau thời gian 01 tháng kể từ ngày thông báo, ông B1, bà V vẫn im lặng, không trả nợ. Ông đã nhiều lần nhắc nhỡ, đòi nợ nhưng không có kết quả. Ông điện thoại thì ông B1, bà V không nghe máy, trực tiếp đến nhà thì vợ chồng ông B1, bà V trốn tránh, kéo dài cho đến nay. Nay ông Trần Hoài B1 đã mất vào ngày 28/01/2022, 05 người thừa kế theo pháp luật của ông B1 gồm: Ông Trần Thanh P, bà Thái Thị B (cha mẹ ruột ông B1); bà Đoàn Thị Cẩm V, Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 (vợ con ông B1). Yêu cầu các đương sự liên đới trách nhiệm trả lại ông số tiền 1.850.000.000 đồng. Ngoài việc yêu cầu trả số nợ 1.850.000.000 đồng, thì phải trả lãi tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngày 05/01/2023, ông Tăng Thành X khởi kiện sửa đổi, bổ sung thay đổi tư cách đương sự và yêu cầu như sau: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V và những người liên quan liên ông Trần Thanh P, bà Thái Thị B, Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 (Bà V là người giám hộ cho các cháu T, P1 và T1) có trách nhiệm trả số nợ 1.850.000.000 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm trả, tạm tính đến ngày 30/11/2022 là 249.736.111 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà V và những người thừa kế của ông B1 (trong đó có bà V), bà V đồng thời là người giám hộ cho các con (trừ ông P, bà B ra, do ông bà đã có văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế của ông B1) phải trả nguyên đơn số nợ 1.850.000.000 đồng và lãi suất 10%/năm (0,833%/tháng). Đối với số nợ 100.000.000 đồng, yêu cầu lãi tính từ ngày 30/6/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm; Số nợ 300.000.000 đồng, yêu cầu lãi tính từ ngày 16/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm; Số nợ 850.000.000 đồng và 600.000.000 đồng yêu cầu tính lãi từ ngày thụ lý vụ án (ngày 04/7/2022) đến ngày xét xử sơ thẩm.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử, tại Bản án sơ thẩm số: 182/2023/DS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V, đồng thời là người giám hộ cho các con (Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1) và là người thừa hưởng di sản thừa kế của ông B1 phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Tăng Thành X số tiền 2.152.809.382 đồng (Gốc: 1.850.000.000 đồng, lãi 302.809.382 đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/9/2023, Bị đơn Đoàn Thị Cẩm V, Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 cùng có kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa một phần án sơ thẩm, đề nghị bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, xem xét miễn án phí cho trẻ em là T, P1 và T1.

Ngày 15/9/2023: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có kháng nghị số 16/QĐ –VKS – DS đề nghị Sửa án sơ thẩm, với những căn cứ do vi phạm về tố tụng và nội dung.

Tại phiên tòa phúc thẩm

* Ý kiến của đại diện của đại diện bị đơn: vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa một phần án sơ thẩm, đề nghị bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015, bà V và các cháu T, P1 và T1 chỉ có nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi di sản của ông B1 để lại cho họ; Bà V và ông B1 cùng ký biên nhận tiền đối với nguyên đơn nay ông B1 đã chết thì bà V chỉ có nghĩa vụ liên đới cùng những người hưởng thừa kế của ông B1 có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì mới đúng quy định. Đồng thời, xem xét miễn án phí cho trẻ em là T, P1 và T1.

Vào ngày 27/12/2023, người đại diện bà V cung cấp các ủy nhiệm chi, bảng sao kê tài khoản để chứng minh ông B1 (chồng bà V) chuyển khoản cho ông X thông qua Ngân hàng tổng số tiền 510.500.000 đồng từ ngày 06/11/2019 đến ngày 28/9/2021 và đề nghị xem xét về vấn đề này. Đ đại diện nguyên đơn cho rằng giữa các bên có còn có nhưng giao dịch khác ngoài các biên nhận đã kiện là không có chứng cứ nên đề nghị khấu trừ số tiền ông B1 đã trả vào phần tiền gốc và lãi.

* Ý kiến của nguyên đơn: Ông không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc đề nghị khấu trừ số tiền mà ông B1 cho rằng đã chuyển khoản vào tài khoản của ông vì thực tế hai bên có nhiều quan hệ vay mượn với nhau không có giấy tờ, việc chuyển trả này là ngoài các biên nhận ông đã khởi kiện nên đề nghị buộc trả toàn bộ số tiền gốc và lãi như án sơ thẩm đã tính.

* Quan điểm của luật sư Nguyễn Quốc N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư không có ý kiến gì về đối với nội dung kháng nghị đã nêu. Đối với kháng cáo của bị đơn: không đồng ý với đề nghị khấu trừ số tiền mà ông B1 cho rằng đã chuyển khoản vào tài khoản của ông X vì thực tế hai bên có nhiều quan hệ vay mượn với nhau không có giấy tờ, việc chuyển trả này là ngoài các biên nhận ông X đã khởi kiện nên đề nghị buộc trả toàn bộ số tiền gốc và lãi như án sơ thẩm đã tính. Các ủy nhiệm chi chuyển khoản không ghi rõ nội dung chuyển khoản cho mục đích gì, là trả gốc hay trả lãi nên vì vậy không đồng ý khấu trừ. Nếu quay lại tính là trả tiền gốc thì phải tính lại theo từng thời điểm nên đề nghị bác kháng cáo của đại diện bị đơn đã đặt ra.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung: Xét kháng cáo của Bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông X không yêu cầu ông P và bà B trả nợ, Tòa án không đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông X là chưa đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung:

  • - Đối với biên nhận ngày 29/6/2017, theo nội dung biên nhận thể hiện, ông Bảo m của ông X số tiền 100.000.000 đồng, từ ngày 29/6 đến ngày 29/7 sẽ thanh toán, bà V không ký tên trong biên nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông X không yêu cầu bà V phải thanh toán, chỉ yêu cầu bà V trả với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B1, Tòa án sơ thẩm buộc bà V liên đới thanh toán số tiền này là chưa phù hợp. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi suất từ kể từ ngày 30/6/2017 là chưa đúng theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Trong trường hợp này, lãi suất được tính kể từ ngày 30/7/2017 mới chính xác.
  • - Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc phẩm, bà V cung cấp ủy nhiệm chi, bảng sao kê tài khoản để chứng minh ông B1 (chồng bà V) trả tiền cho ông X. Qua xem xét các chứng từ này thể hiện, từ ngày 06/11/2019 đến ngày 28/9/2021, ông B1 chuyển khoản cho ông X thông qua Ngân hàng tổng số tiền 510.500.000 đồng. Như vậy, thời gian ông B1 thanh toán diễn ra sau khi các bên xác lập giao dịch vay tiền, nên có cơ sở xác định, ông B1 đã trả cho ông X số tiền này, Tuy nhiên, do không xác định được số tiền này là gốc hay lãi, để đảm bảo quyền lợi của các bên, cần tính tổng số tiền gốc và lãi mà ông B1, bà V có trách nhiệm thanh toán cho ông X, sau đó cấn trừ số tiền 510.500.000 đồng là phù hợp, cụ thể như sau:
  • - Biên nhận ngày 29/6/2017: lãi suất từ ngày 30/7/2017 đến ngày 17/8/2023 là 60.475.000 đồng.
  • - Biên nhận ngày 04/7/2019: lãi suất từ ngày 04/7/2022 đến ngày 17/8/2023 là 96.530.816 đồng.
  • - Biên nhận ngày 05/4/2020: lãi suất từ ngày 04/7/2022 đến ngày 17/8/2023 là 68.139.400 đồng.
  • - Biên nhận ngày 15/11/2020: lãi suất từ ngày 16/12/2021 đến ngày 17/8/2023 là 75.969.600 đồng.

Khấu trừ trên tổng số tiền gốc và lãi - số tiền đã thanh toán, như vậy, ông B1 và bà V phải thanh toán cho ông X tổng số tiền gốc và lãi là 1.640.614.816 đồng. Do ông B1 đã chết nên những người thừa kế của ông B1 là bà V, cháu T, cháu T1, cháu P1 phải liên đới trả cho ông X số tiền 820.307.408 đồng trong phạm vi di sản do ông B1 để lại, bà V có trách nhiệm trả cho ông X số tiền nợ còn lại là 820.307.408 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm, trong vụ án này, nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ liên đới, nên bà V và cháu T, cháu P1, cháu T1 cùng chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho ông X. Xét trường hợp thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 vì là trẻ em. Tòa án buộc bà V phải nộp toàn bộ án phí không phân chia số tiền án phí để miễn cho cháu T, cháu P1, cháu T1 là chưa phù hợp.

Từ những phân tích trên, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà V, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, sửa một phần Bản án sơ thẩm như đã phân tích nếu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng khác.

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều và đây là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án sơ thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.

[2]. Về tư cách tham gia tố tụng và thủ tục: Cấp sơ thẩm xác định bà V với tư cách là bị đơn, đồng thời là người giám hộ cho các con (T, P1, T1) và là người thừa hưởng di sản thừa kế của ông B1. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thanh P, bà Thái Thị B xin vắng mặt nên cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp.

[3] Về trình tự tố tụng: kháng cáo và kháng nghị trong hạn luật định, người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí nên hợp lệ về mặt hình thức. Để xét kháng cáo, kháng nghị cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung, cần thiết phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ các bên đã thực hiện đối chiếu với quy định của pháp luật.

[4] Về nội dung: Cần phân tích những căn cứ để xem xét có chấp nhận hay không đối với từng nội dung kháng caó mà bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Hoài B1 đặt ra cùng với những vấn đề mà nội dung kháng nghị đã nêu.

[5] Xét về nội dung bà V kháng cáo cho rằng: Bà V và ông B1 cùng ký biên nhận tiền đối với nguyên đơn nay ông B1 đã chết thì bà V chỉ có nghĩa vụ liên đới cùng những người hưởng thừa kế của ông B1 có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì mới đúng quy định.

[5.1] Hồ sơ thể hiện: Đối với số nợ, nguyên đơn chứng minh trong thời kỳ hôn nhân từ năm 2017 – 2020, ông B1, bà V có vay nợ của ông X số tiền 1.850.000.000 đồng. Cụ thể theo 4 biên nhận mà nguyên đơn đã cung cấp.

[5.2] Quá trình vay nợ, ông B1, bà V là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97/2010, quyển số 01 ngày 16/6/2010. Vào ngày 28/01/2022, ông B1 chết và được UBND xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp Trích lục khai tử số 90/TLKT-BS ngày 08/02/2022; nhưng cho đến nay phía bà V vẫn không trả nợ là trái với thỏa thuận của hai bên.

[5.3] Thấy rằng: Trong thời kỳ hôn nhân, ông B1, bà V có tạo lập được khối tài sản chung, trước khi chết ông B1 không để lại di chúc; nên phần di sản của ông được chia theo pháp luật cho vợ con và cha mẹ ông B1 theo quy định tại Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 và những người thừa kế của ông B1 có trách nhiệm trả khoản nợ do ông B1 để lại theo quy định tại khoản 8 Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên, tại Văn bản từ chối nhận di sản ngày 05/5/2022 (BL147-148), ông P, bà B đã từ chối nhận di sản (đối với 03 quyền sử dụng đất) của ông B1 để lại, với nội dung “...việc từ chối nhận di sản thừa kế này không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

[5.4] Việc từ chối nhận di sản thừa kế của ông P, bà B là phù hợp theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự, nên ông bà không có trách nhiệm cùng bà V trả nợ cho ông X. Như đã phân tích trên tại phiên tòa sơ thẩm, ông X không yêu cầu ông P và bà B trả nợ, Tòa án sơ thẩm không Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông X là chưa đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Do vậy, thấy rằng kháng nghị của Viện kiểm sát về vấn đề này là có cơ sở. Vì vậy, vấn đề sai sót này của cấp sơ thẩm cần nêu ra để rút kinh nghiệm.

[5.5] Biên nhận ngày 29/6/2017, vay 100.000.000 đồng. theo biên nhận thể hiện bà V không có ký trong biên nhận. Trong quá trình giải quyết bà V vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bà V có biết khoản nợ này hay không, do đó buộc bà V cùng nghĩa vụ với ông B1 trả số nợ này là không có căn cứ. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông X không yêu cầu bà V phải thanh toán và chỉ yêu cầu bà V trả với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B1, Việc Tòa án buộc bà V liên đới thanh toán số tiền này là chưa phù hợp. Do đó, căn cứ nêu ra trong kháng nghị là phù hợp, nên cần chấp nhận sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên đối với số tiền này. Chấp nhận nội dung kháng nghị đã phân tích.

[6] Đại diện Bị đơn yêu cầu xem xét khấu trừ số tiền đã thanh toán trừ vào nợ gốc. Thấy rằng:

[6.1] Căn cứ các chứng cứ đưa ra tại giai đoạn phúc thẩm mà người đại diện bà V giao nộp ngày 27/12/2023 trong đó bao gồm các chứng cứ thể hiện từ ngày 06/11/2019 đến 28/9/2021 khi còn sống ông B1 có chuyển khoản đến số tài khoản 000111779301 được mở tại Ngân hàng N2 của ông X. Các ủy nhiệm chi giao dịch chuyển khoản từ Bảng sao kê tài khoản để chứng minh ông B1 (chồng bà V) trả cho ông X tổng số tiền 510.500.000 đồng.

[6.2] Đánh giá xem xét các chứng từ này thể hiện, từ ngày 06/11/2019 đến ngày 28/9/2021, ông B1 chuyển khoản cho ông X thông qua Ngân hàng. Như vậy, thời gian ông B1 thanh toán diễn ra sau khi các bên xác lập giao dịch vay tiền, nên có cơ sở xác định, ông B1 đã trả cho ông X tổng số tiền 510.500.000 đồng. Tuy nhiên, do không xác định được số tiền này là gốc hay lãi, để đảm bảo quyền lợi của các bên, cần tính tổng số tiền gốc và lãi mà ông B1, bà V có trách nhiệm thanh toán cho ông X, sau đó cấn trừ số tiền 510.500.000 đồng là như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp và cần thiết xem xét khấu trừ đối với các khoản tiền đã nhận này.

[7] Về cách tính tiền lãi: kháng nghị đặt ra việc cấp sơ thẩm tính lãi đối với số tiền 100 triệu đồng như án sơ thẩm tính từ 30/6/2017 là chưa chính xác, vì ông B1 có hứa thời hạn trả 01 tháng tức là ngày 29/7/2017 sẽ trả nên thời gian tính lãi châm trả sẽ được tính từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn là ngày 30/7/2017.

Vì vậy, căn cứ tính lãi từ ngày 30/7/2017 mới phù hợp, nên cần thiết sửa lại phần tính lãi đối với số tiền này như sau: Lãi suất 10%/năm, tức 0,833%/tháng. Tính từ ngày 30/7/2017 đến ngày 17/8/2023 tương đương là 6 năm 17 ngày; 100.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 6 năm 17 ngày = 60.475.000 đồng.

[8] Những phần tính lãi các khoản vay còn lại là phù hợp, nên cần giữ nguyên, cụ thể như sau:

  • - Biên nhận ngày 04/7/2019: lãi suất từ ngày 04/7/2022 đến ngày 17/8/2023 là 96.530.816 đồng.
  • - Biên nhận ngày 05/4/2020: lãi suất từ ngày 04/7/2022 đến ngày 17/8/2023 là 68.139.400 đồng.
  • - Biên nhận ngày 15/11/2020: lãi suất từ ngày 16/12/2021 đến ngày 17/8/2023 là 75.969.600 đồng.

Như vậy, Tổng số tiền gốc và lãi là: 1.850.000.000 đồng + 301.114.816 đồng = 2.151.114.816 đồng - số tiền đã thanh toán 510.500.000 đồng = 1.640.614.816 đồng. Như vậy, ông B1 và bà V phải thanh toán cho ông X tổng số tiền gốc và lãi là 1.640.614.816 đồng. Do ông B1 đã chết nên những người thừa kế của ông B1 là bà V, cháu T, cháu T1, cháu P1 phải liên đới trả cho ông X số tiền 820.307.408 đồng trong phạm vi di sản do ông B1 để lại, bà V có trách nhiệm trả cho ông X số tiền nợ còn lại là 820.307.408 đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V và những người thừa kế của ông Trần Hoài B1 là bà Đoàn Thị Cẩm V, cháu Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[9] Về cách tính án phí dân sự sơ thẩm: Cấp sơ thẩm tuyên buộc bà V phải nộp toàn bộ án phí trên tổng số nợ gốc và lãi là chưa chính xác. Phần kháng cáo này của bà V đặt ra xem xét miễn án phí cho trẻ em là T, P1 và T1 là có cơ sở nên có xét lại phần án phí sơ thẩm vì thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326;

Ngoài ra, bản án cần thiết có điều chỉnh sửa giảm án phí một phần từ cách tiền lãi từ cách tính sai của án sơ thẩm và khấu trừ lại phần đối chiếu ông B1 đã thanh toán. Theo đó, có xem xét nên khấu trừ lại số tiền bà V phải chịu tương ứng chia làm 4 người và phần bà V phải chịu; Tương ứng bà V phải chịu án phí trên số tiền 820.307.408 đồng + (820.307.408 đồng:4) = 1.025.384.260 đồng tương ứng là 42.761.500 đồng.

[10] Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bà V, cháu T, P1 và T1 và chấp nhận toàn bộ kháng nghị như Viện kiểm sát phân tích.

[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Quan điểm của luật sư nguyên đơn là chưa có căn cứ để chấp nhận.

[12] Án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo nên những người kháng cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ; chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị Cẩm V, cháu Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1: Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Thành X đối với ông Trần Thanh P và bà Thái Thị Bạch .

Buộc những người thừa kế của ông Trần Hoài B1 là bà Đoàn Thị Cẩm V, cháu Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 phải liên đới có trách nhiệm trả cho ông Tăng Thành X số tiền 820.307.408 đồng (Tám trăm hai mươi triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn, bốn trăm lẻ tám đồng) trong phạm vi di sản do ông Trần Hoài B1 để lại.

Buộc bà Đoàn Thị Cẩm V có trách nhiệm trả cho ông Tăng Thành X số tiền nợ còn lại là 820.307.408 đồng (Tám trăm hai mươi triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn, bốn trăm lẻ tám đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V và những người thừa kế của ông Trần Hoài B1 là bà Đoàn Thị Cẩm V, cháu Trần Anh T, Trần Tấn P1, Trần Phước T1 chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Đoàn Thị Cẩm V phải nộp 42.761.500 đồng (Bốn mươi hai triệu, bảy trăm sáu mưới mốt nghìn, năm trăm đồng). Miễn án phí cho cháu T1, T và P1.

Về tạm ứng án phí: Nguyên đơn được nhận lại số tiền 33.750.000 đồng (Ba mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000720 ngày 28/6/2022 và số tiền 6.243.403 đồng (Sáu triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm lẻ ba đồng) theo Biên lai thu số 0000404 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Đoàn Thị Cẩm V, Trần Anh T, Trần Tấn P1 và Trần Phước T1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000094 ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 10/01/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Trang – Nguyễn Chế Linh

Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/DSPT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 15/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ Tang Thanh X - BĐ Doan Thi Cam V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger