Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 15/2022/HS-ST

Ngày: 22-11-2022

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thanh
Ông Tống Thế Tuyên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Nhà văn hóa khu dân cư số 3, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022; Thông báo dời thời gian xét xử số 18/TB-TA ngày 03 tháng 11 năm 2022 và Thông báo dời thời gian xét xử số 20/TB-TA ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Chu Văn H, sinh năm: 2000 tại Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: Xóm Tân Lộc, xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Chổ ở hiện nay: Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn Bài (đã chết) và bà Trần Thị Hài; Vợ con: Chưa có; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh chị em; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 01/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 04 tháng 07 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích; Bị bắt tạm giữ ngày 10/6/2022, chuyển tạm giam ngày 13/6/2022, (có mặt).

- Bị hại: Bà Cao Thị D, sinh năm 1972, (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Chu Văn S, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Tân Lộc, xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

2. Bà Phạm Thị Thanh N, sinh năm 1979 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu Văn H làm nhân viên phụ bếp tại quán Hải sản Làng Chài thuộc khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình phụ bếp, H biết nhà bà Cao Thị D ban đêm không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

Khoảng 02 giờ 00 ngày 10/6/2022, H xuống khu vực bếp quán Làng Chài lấy 01 đôi găng tay bằng vải, màu trắng - đen - xanh và 01 cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm để làm công cụ đi trộm cắp tài sản. Sau đó, H ra phía sau lầu một quán Làng Chài leo bờ tường ra phía sau nhà bà D rồi đi theo cầu thang lên tầng thượng. Lên đến tầng thượng H trèo sang quán Làng Chài, tuột theo trụ sắt xuống mái dưới lầu một, đi qua thanh sắt trèo sang lầu một nhà bà D. Sau khi qua nhà bà D, H cầm kéo đập vỡ tấm kính, mở chốt cửa phía trong vào nhà. H đi đến phòng ngủ đầu tiên, gần chân cầu thang bật đèn trong phòng lục soát tìm tài sản. H nhìn thấy két sắt để gần đầu giường, mặt trước két sắt có hai đầu đinh ốc vít nên đi xuống lầu trệt tìm Tua Vít để mở, nhưng không có. H đến phòng bếp lấy 01 chiếc kìm dài 16cm; 01 cây kéo, dài 22cm và 01 cây kéo dài 20cm mang lên để đục két sắt. H dùng kéo đục bảng hệ thống mật mã bằng nhựa, màn hình mặt trước của két sắt nhưng không mở được cửa nên kéo két sắt ra, dùng kéo đục lớp vỏ sắt mặt sau két và dùng kìm bẻ. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày thì đục được một lỗ để thò tay vào bên trong két sắt lấy được số tiền 335.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu đồng); 01 vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K; 01 vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K; 01 nhẫn đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K; 01 sợi dây chuyền, có mặt hình chữ nhật, bằng hợp kim vàng 16K, 14K; 01 vòng đeo tay, mặt in hình bông hoa, bằng hợp kim vàng 23K; 01 mặt dây chuyền, hình chữ nhật, in hình quan âm bồ tát, bằng hợp kim vàng 18K, 15K; 01 vòng đeo cổ, phía trên in hình hoa văn, bằng hợp kim vàng 23K; 03 miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K. H cho số kim loại vàng vào trong một túi ni lông, màu xanh rồi bỏ tất cả tiền và túi đựng vàng vào trong hai túi ni lông màu trắng. Sau đó, H đi xuống bếp để kìm và 02 cây kéo trên nóc tủ kính và dọn dẹp sạch hiện trường. H đẩy két sắt lại vị trí cũ rồi cầm túi ni lông chứa những đồ vật đã thu dọn lên tầng thượng khách sạn Tuấn Ninh giấu. Dọn dẹp hiện T xong, H cầm túi ni lông đựng tiền, vàng trộm cắp được trèo tường về lại quán Làng Chài tắm rửa giặt quần áo. Sau đó, H cầm số tài sản trộm cắp được xuống bếp, lấy ra số tiền 55.000.000 đồng, số tiền 280.000.000 đồng còn lại và túi đựng vàng H dùng băng keo cuốn lại bỏ vào túi ni lông màu đen mang đi cất giấu trong góc dãy phòng trọ đối diện quán Làng Chài thuộc khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo. Đến 06 giờ ngày 10/6/2022, H mang số tiền 55.000.000 đồng ra chợ Côn Đảo nhờ chị Phạm Thị Thanh N chuyển vào số tài khoản Ngân hàng của H, H trả cho chị N 40.000 đồng phí chuyển. Sau đó H chuyển khoản trả nợ cho anh Trần Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng; anh Hà Văn T số tiền 1.500.000 đồng; anh Hà Văn T số tiền 1.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T số tiền 35.000.000 đồng; anh Lê Văn C số tiền 5.000.000 đồng; anh H số tiền 3.000.000 đồng, còn lại số tiền 4.500.000 đồng trong tài khoản. (BL:135-142)

Đến khoảng 07 giờ 00 cùng ngày chị Nguyễn Cao Ngọc T con gái bà Cao Thị D phát hiện nhà bị cạy phá nên đã trình báo Công an huyện Côn Đảo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo đã tiến hành khám nghiệm hiện T và triệu tập H để làm việc. (BL:126-127)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Chu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình đồng thời chỉ địa điểm cất giấu, tự nguyện giao nộp tài sản đã trộm cắp (BLĐT: 102-117). Quá trình điều tra, Chu Văn H đã tự nguyện giao nộp số tiền 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng) (BL 105).

Tại Thông báo kết quả giám định số: 00397/N1.22/TĐ ngày 19/7/2022 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 ban hành kết quả: 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) nhẫn đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) sợi dây chuyền, có mặt hình chữ nhật, bằng hợp kim vàng 16K, 14K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, mặt in hình bông hoa, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) mặt dây chuyền, hình chữ nhật, in hình quan âm bồ tát, bằng hợp kim vàng 18K, 15K (Kara); 01 (một) vòng đeo cổ, phía trên in hình hoa văn, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara). (BL: 31-39).

Tại Bản kết luận định giá số: 04/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Côn Đảo ngày 5/8/2022 kết luận: Tổng giá trị tài sản bằng kim loại vàng là 117.282.000đồng (Một trăm mười bảy triệu hai trăm tám mươi hai ngàn đồng).

Tổng số tài sản Chu Văn H trộm cắp của bà Cao Thị D là 452.282.000đồng (Bốn trăm năm mươi hai triệu hai trăm tám mưới hai ngàn đồng) (BLĐT: 40-51).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật và xử lý vật chứng:

Về thu giữ, tài liệu đồ vật:

Khám nghiệm hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ:

  • 01 (một) chiếc kìm dài 16cm, tay cầm bọc cao su màu đen - đỏ, dài 10cm, đầu kìm dài 6cm.
  • 01 (một) cây kéo, dài 22cm, tay cầm bọc cao su màu đen, dài 14cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, dài 8cm.
  • 01 (một) cây kéo dài 20cm, tay cầm được bọc cao su màu đen, dài 8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen, dài 12cm được để trên tủ kính trong phòng bếp nhà bà Cao Thị D.

Tại tầng thượng khách sạn Tuấn Ninh thu giữ 01 (một) túi ni lông, màu trắng, kích thước 26cm x 40cm bên trong chứa:

  • 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm, tay cầm được bọc cao su in chữ: KÉO THÉP LOẠI I – THÁI DƯƠNG dài 10cm, lưỡi kéo dài 12cm, mũi kéo bị gãy.
  • 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải, màu trắng – đen – xanh, đã qua sử dụng. Đây là công cụ H sử dụng phá két sắt để lấy trộm tài sản của bà D.
  • 01 (một) bảng hệ thống mật mã, bên ngoài bằng nhựa, màu vàng, có nút chỉ số mật mã *, #, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,0 và mặt màn hình hiển thị đã bị vỡ thành 06 mảnh với kích thước khác nhau.
  • Nhiều mảnh vỡ bê tông, màu trắng, kích thước khác nhau là các bộ phận của két sắt bị H phá rời khi trộm cắp tài sản.
  • 01 (một) hộp giấy màu đỏ, gồm hai mảnh hình trụ tròn, đường kính 08cm, cao 1,5cm đã hư hỏng.
  • 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, màu đỏ, kích thước 9cm x 9cm x 3,5cm, bên trên in chữ CON DAO PEARL, đã hư hỏng.
  • 01 (một) sợi dây cao su màu trắng, bị biến dạng, dài 1,6m.

Chu Văn H giao nộp:

  • 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara);
  • 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara);
  • 01 (một) nhẫn đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara);
  • 01 (một) sợi dây chuyền, có mặt hình chữ nhật, bằng hợp kim vàng 16K, 14K (Kara);
  • 01 (một) vòng đeo tay, mặt in hình bông hoa, bằng hợp kim vàng 23K (Kara);
  • 01 (một) mặt dây chuyền, hình chữ nhật, in hình quan âm bồ tát, bằng hợp kim vàng 18K, 15K (Kara);
  • 01 (một) vòng đeo cổ, phía trên in hình hoa văn, bằng hợp kim vàng 23K (Kara);
  • 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara);
  • 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara);
  • 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara);
  • 280.000.000đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng) (BL 104).

Về xử vật chứng:

- Vật chứng đã giao trả cho bà D gồm: Số tiền 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng); 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) nhẫn đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) sợi dây chuyền, có mặt hình chữ nhật, bằng hợp kim vàng 16K, 14K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, mặt in hình bông hoa, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) mặt dây chuyền, hình chữ nhật, in hình quan âm bồ tát, bằng hợp kim vàng 18K, 15K (Kara); 01 (một) vòng đeo cổ, phía trên in hình hoa văn, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara) và 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara) (BLĐT: 54, 121).

- Hiện đang tạm giữ các vật chứng gồm: 01 (một) chiếc kìm dài 16cm, tay cầm bọc cao su màu đen - đỏ, dài 10cm, đầu kìm dài 6cm, 01 (một) cây kéo, dài 22cm, tay cầm bọc cao su màu đen, dài 14cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, dài 8cm; 01 (một) cây kéo dài 20cm, tay cầm được bọc cao su màu đen, dài 8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải, màu trắng – đen – xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm lưỡi kéo dài 12cm, mũi kéo bị gãy; 01 (một) túi ni lông, màu trắng, kích thước 26cm x 40cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu đỏ, gồm hai mảnh hình trụ tròn, đường kính 08cm, cao 1,5cm, đã hư hỏng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, màu đỏ, kích thước 9cm x 9cm x 3,5cm, bên trên in chữ CON DAO PEARL, đã hư hỏng; 01 (một) bảng hệ thống mật mã, bên ngoài bằng nhựa, màu vàng, có nút chỉ số mật mã *, #, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,0 và mặt màn hình hiển thị đã bị vỡ thành 06 mảnh với kích thước khác nhau; Nhiều mảnh vỡ bê tông, màu: trắng, kích thước khác nhau; 01 (một) túi ni lông, màu: đen, kích thước 73cm x 99cm; 01 (một) sợi dây cao su màu: trắng, bị biến dạng, dài 1,6m.

* Về bồi thường dân sự:

- Ngày 20/6/2022 anh Chu Văn S (anh trai của Chu Văn H), đại diện cho gia đình tự nguyện giao nộp số tiền 50.500.000₫ (năm mươi triệu năm trăm ngàn đồng) để khắc phục hậu quả. Bà D đã nhận lại toàn bộ tài sản, không còn yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

- Đối với két sắt, kính cửa bị H làm hư hỏng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà D không yêu cầu H bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Quá trình điều tra xác định: Bà Phạm Thị Thanh N là người nhận số tiền 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng) để chuyển vào tài khoản cho bị cáo và các ông Trần Văn Đ, Hà Văn T, Hà Văn T, Nguyễn Văn T, Lê Văn C, ông H là những người nhận tiền bị cáo trả nợ đều không biết đây là tiền bị cáo trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo không xem xét xử lý.

* Đối với két sắt bị bị cáo phá hỏng, bị hại xác định mua két sắt từ lâu, giá trị không lớn, không có hóa đơn, chứng từ. Do đó, không có căn cứ xác định giá trị thiệt hại nên không có cơ sở xử lý đối với bị cáo về hành vi Hủy hoại tài sản.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Bản cáo trạng số 15/CT-VKSCĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Chu Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Ông Chu Văn S đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và nay không có yêu cầu gì về khoản tiền bồi thường đối với bị cáo.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 (chín) năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kìm dài 16cm, tay cầm bọc cao su màu đen - đỏ, dài 10cm, đầu kìm dài 6cm, 01 (một) cây kéo, dài 22cm, tay cầm bọc cao su màu đen, dài 14cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, dài 8cm; 01 (một) cây kéo dài 20cm, tay cầm được bọc cao su màu đen, dài 8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải, màu trắng - đen - xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm lưỡi kéo dài 12cm, mũi kéo bị gãy; 01 (một) túi ni lông, màu trắng, kích thước 26cm x 40cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu đỏ, gồm hai mảnh hình trụ tròn, đường kính 08cm, cao 1,5cm, đã hư hỏng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, màu đỏ, kích thước 9cm x 9cm x 3,5cm, bên trên in chữ CON DAO PEARL, đã hư hỏng; 01 (một) bảng hệ thống mật mã, bên ngoài bằng nhựa, màu vàng, có nút chỉ số mật mã *, #, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,0 và mặt màn hình hiển thị đã bị vỡ thành 06 mảnh với kích thước khác nhau; Nhiều mảnh vỡ bê tông, màu: trắng, kích thước khác nhau; 01 (một) túi ni lông, màu: đen, kích thước 73cm x 99cm và 01 (một) sợi dây cao su màu: trắng, bị biến dạng, dài 1,6m.
  • Về trách nhiệm dân sự:
    • + Bị hại đã nhận lại tài sản và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.500.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xét đến.
    • + Ông Chu Văn S không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền ông S đã bồi thường cho bị hại, nên không xét đến.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận; Ông Chu Văn S cũng không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Côn Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo hoàn T phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại và tang vật đã thu giữ cũng như nội dung bản cáo trạng truy tố. Từ đó có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 02 giờ 00 ngày 10/6/2022, tại nhà của bà Cao Thị D ở đường Phạm Văn Đồng, khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp các tài sản của bà D gồm: 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) nhẫn đeo tay, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) sợi dây chuyền, có mặt hình chữ nhật, bằng hợp kim vàng 16K, 14K (Kara); 01 (một) vòng đeo tay, mặt in hình bông hoa, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) mặt dây chuyền, hình chữ nhật, in hình quan âm bồ tát, bằng hợp kim vàng 18K, 15K (Kara); 01 (một) vòng đeo cổ, phía trên in hình hoa văn, bằng hợp kim vàng 23K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara); 01 (một) miếng kim loại bằng vàng tinh khiết, bên trên in hình ông thần tài 24K (Kara) trị giá 117.282.000đồng (Một trăm mười bảy triệu, hai trăm tám mươi hai ngàn đồng) và số tiền 335.000.000đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng). Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 452.282.000đồng (Bốn trăm năm mươi hai triệu, hai trăm tám mưới hai ngàn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm để không chỉ có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo mà còn mang tính phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xét đến.
  • Ông Chu Văn S đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.500.000đồng (Năm mươi triệu năm trăm ngàn đồng). Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, ông S không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này nên không xét đến.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến việc phạm tội và các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) chiếc kìm dài 16cm, tay cầm bọc cao su màu đen - đỏ, dài 10cm, đầu kìm dài 6cm, 01 (một) cây kéo, dài 22cm, tay cầm bọc cao su màu đen, dài 14cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, dài 8cm; 01 (một) cây kéo dài 20cm, tay cầm được bọc cao su màu đen, dài 8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải, màu trắng - đen - xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm lưỡi kéo dài 12cm, mũi kéo bị gãy; 01 (một) túi ni lông, màu trắng, kích thước 26cm x 40cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu đỏ, gồm hai mảnh hình trụ tròn, đường kính 08cm, cao 1,5cm, đã hư hỏng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, màu đỏ, kích thước 9cm x 9cm x 3,5cm, bên trên in chữ CON DAO PEARL, đã hư hỏng; 01 (một) bảng hệ thống mật mã, bên ngoài bằng nhựa, màu vàng, có nút chỉ số mật mã *, #, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,0 và mặt màn hình hiển thị đã bị vỡ thành 06 mảnh với kích thước khác nhau; Nhiều mảnh vỡ bê tông, màu: trắng, kích thước khác nhau; 01 (một) túi ni lông, màu: đen, kích thước 73cm x 99cm và 01 (một) sợi dây cao su màu: trắng, bị biến dạng, dài 1,6m.

[8] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với bà bà Phạm Thị Thanh N là người nhận số tiền 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng) để chuyển vào tài khoản cho bị cáo và các ông Trần Văn Đ, Hà Văn T, Hà Văn T, Nguyễn Văn T, Lê Văn C, ông H là những người nhận tiền bị cáo trả nợ đều không biết đây là tiền bị cáo trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo không xem xét xử lý là phù hợp.
  • - Đối với két sắt bị bị cáo phá hỏng, bị hại xác định mua két sắt từ lâu, giá trị không lớn, không có hóa đơn, chứng từ. Do đó, không có căn cứ xác định giá trị thiệt hại nên không có cơ sở xử lý đối với bị cáo về hành vi Hủy hoại tài sản.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 10/6/2022.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) chiếc kìm dài 16cm, tay cầm bọc cao su màu đen - đỏ, dài 10cm, đầu kìm dài 6cm, 01 (một) cây kéo, dài 22cm, tay cầm bọc cao su màu đen, dài 14cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, dài 8cm; 01 (một) cây kéo dài 20cm, tay cầm được bọc cao su màu đen, dài 8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải, màu trắng - đen - xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen, dài 22cm lưỡi kéo dài 12cm, mũi kéo bị gãy; 01 (một) túi ni lông, màu trắng, kích thước 26cm x 40cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu đỏ, gồm hai mảnh hình trụ tròn, đường kính 08cm, cao 1,5cm, đã hư hỏng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, màu đỏ, kích thước 9cm x 9cm x 3,5cm, bên trên in chữ CON DAO PEARL, đã hư hỏng; 01 (một) bảng hệ thống mật mã, bên ngoài bằng nhựa, màu vàng, có nút chỉ số mật mã *, #, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,0 và mặt màn hình hiển thị đã bị vỡ thành 06 mảnh với kích thước khác nhau; Nhiều mảnh vỡ bê tông, màu: trắng, kích thước khác nhau; 01 (một) túi ni lông, màu: đen, kích thước 73cm x 99cm và 01 (một) sợi dây cao su màu: trắng, bị biến dạng, dài 1,6m.

    (Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/10/2022).

  4. Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 CA tỉnh BR-VT;
  • - PC 10 CA tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Công an huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22/11/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 15/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger