| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày: 24-3-2021 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Chính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc, Bà Nguyễn Thị Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2021 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2021/TLST-HS ngày 03/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HS ngày 12/3/2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 tại Bắc Ninh; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị C; có vợ và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49 ngày 30/01/2013, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản (chấp hành xong bản án ngày 10/2/2015); tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58 ngày 15/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ngày phạm tội 15/12/2016, chấp hành xong bản án ngày 16/4/2019); bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020, chuyển tạm giam từ ngày 20/12/2020, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người làm chứng:
- NLC1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC2, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu N, phường T, tp C, tỉnh Hải Dương;
- NLC3, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC4, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC5, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC6, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC7, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC8, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC9, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC10, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- NLC11, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương;
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 01/5/2020, NLC3 cùng với NLC1, Nguyễn Văn T và một số người khác đến quán karaoke L tại huyện Thanh Miện hát. Tại đây xảy ra mâu thuẫn và xô xát giữa nhóm của NLC1 và nhóm của NLC7. Sau khi được can ngăn, nhóm NLC1 ra về nhưng sau đó quay lại quán L để lấy xe ô tô. Tại đây, Nguyễn Văn T cầm theo 01 kiếm dài khoảng 60cm, NLC1 cầm theo dao đi vào quán. Khi biết nhóm NLC7 đang ở Trạm y tế xã L, T và NLC1 đã chạy vào Trạm y tế tấn công nhóm NLC7, gây thương tích cho NLC7 (4%), NLC8 (7%) và NLC9 (4%).
Tại bản Cáo trạng số 11/VKS-HS ngày 02/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố Nguyễn Văn T về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b, e khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng kiếm đuổi đánh, gây thương tích và làm hư hỏng tài sản tại Trạm y tế xã L, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 17/12/2020.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đức Chính |
Bản án số 15/2021/HS-ST ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 15/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/5/2020, tại Trạm y tế xã L, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn từ trước, Nguyễn Văn T có hành vi dùng kiếm bằng kim loại đuổi đánh NLC7, ở Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương gây thương tích cho NLC7 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 04%; làm hư hỏng tài sản của Trạm y tế xã L trị giá 150.000 đồng đã xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Văn T bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã. Ngày 17/12/2020 Nguyễn Văn T bị bắt. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, T đồng phạm với NLC1 và NLC2 với vai trò người thực hành tích cực. Bị cáo sử dụng kiếm kim loại là hung khí để thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, nên phải chịu tình tiết định khung “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T phạm tội trong trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
