Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 05-3-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Rmah HThuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tô Thị Lành
  2. Bà Lê Thị Thanh Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 713/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H’L, sinh năm 1982; địa chỉ: Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Rmah P, sinh năm 1981; địa chỉ: Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Chị H’L trình bày:

Chị với anh Rmah P đã tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2000 và đăng ký kết hôn vào ngày 09-6-2002 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh P thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm sóc vợ con, không lo xây dựng gia đình. Hiện nay, hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau không ai quan tâm, chăm sóc cho nhau và chị cảm thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Rmah P.

Chị và anh Rmah P có 03 con chung tên là Rmah Phill-L, sinh ngày 02-6-2001, Rmah H’Lu S, sinh ngày 03-12-2003 và cháu Rmah H’La N, sinh ngày 08-9-2010. Đối với Rmah Phill-L đã trên 18 tuổi và đã lập gia đình nên chị không yêu cầu giải quyết, còn đối với Rmah H’LuS và cháu Rmah H’La N hiện nay đang sống với chị, anh Phen không quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng các con nên chị có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Phen phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với anh Rmah P. Tuy nhiên, anh P không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vậy, anh Phen không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho Chị H’L được ly hôn với anh Rmah P. Giao con chung là Rmah H’LuS, sinh ngày 03-12-2003 và cháu Rmah H’La N, sinh ngày 08-9-2010 cho Chị H’L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về án phí: Chị H’L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự. Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị H’L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Rmah P và giải quyết về nuôi con chung. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Rmah P có nơi cư trú tại Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Rmah P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Chị H’L và anh Rmah P đã tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2000 và đăng ký kết hôn vào ngày 09-6-2002 tại Ủy ban nhân dân phường Trà Bá, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo Chị H’L khai thì trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh P thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm sóc vợ con, không lo xây dựng gia đình. Hiện nay, hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau không ai quan tâm, chăm sóc cho nhau và chị cảm thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Rmah P.

[3] Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa Chị H’L và anh Phen là do anh P không có trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ, con dẫn đến vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau. Hơn nữa, khi mâu thuẫn, bất đồng xảy ra thì không bên nào đưa ra được biện pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng, làm cơ sở cho việc đoàn tụ. Tòa án cũng đã triệu tập anh P để tiến hành hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án nhưng anh P không đến Tòa án để tham gia các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, anh P đã không còn yêu thương đối với Chị H’L và không quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng như việc xây dựng gia đình. Đến nay Chị H’L khẳng định không còn tình cảm yêu thương anh Phen nữa nên chị vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Rmah P.

Tòa án cũng đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tại nơi cư trú của hai vợ chồng Chị H’L và anh P. Tại biên bản xác minh ngày 01-12-2020, ông Nguyễn Trung L - Thôn phó Làng N, phường T, thành phố P đã cung cấp thông tin như sau: “Chị H’L và anh Rmah P là hai vợ chồng có đăng ký hộ khẩu thường trú tại làng Ngó, phường Trà Bá, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ lâu khoảng 03-04 năm rồi. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì gia đình không có báo với thôn, làng nên thôn không nắm được, chỉ biết là anh P thường xuyên uống rượu, ít quan tâm gia đình”.

Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Chị H’L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị H’L và anh Rmah P có 03 con chung tên là Rmah Phill-L, sinh ngày 02-6-2001, Rmah H’LuS, sinh ngày 03-12-2003 và cháu Rmah H’La N, sinh ngày 08-9-2010. Đối với Rmah Phill-L đã trên 18 tuổi và đã lập gia đình nên chị không yêu cầu giải quyết, còn đối với Rmah H’LuS và cháu Rmah H’La N hiện nay đang sống với Chị H’L, anh P không quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng các con nên Chị H’L có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con. Xét các cháu Rmah H’LuS và cháu Rmah H’La N hiện nay đã hơn 07 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại bản tự khai, các cháu đều có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Chị H’L phù hợp với nguyện vọng của các con nên giao các con cho Chị H’L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị H’L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị H’L không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H’L là nguyên đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị H’L xin ly hôn anh Rmah P.

Tuyên Xử:

  1. Cho Chị H’L được ly hôn anh Rmah P.
  2. Giao cháu Rmah H’LuS, sinh ngày 03-12-2003 và cháu Rmah H’La N, sinh ngày 08-9-2010 cho Chị H’L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình. Chị H’L không có yêu cầu anh Rmah P phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Chị H’L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005646 ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai. Như vậy, Chị H’L đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Chị H’L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với anh Rmah P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố P;
  • - Chi cục THADS thành phố P;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường T, TP. P (GCNKH số 131, QS 01, ngày 09-6-2002);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Rmah HThuyên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2021/HNGĐ-ST ngày 05/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 15/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H'L với anh Rmah P đã tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2000 và đăng ký kết hôn vào ngày 09-6-2002 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh P thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm sóc vợ con, không lo xây dựng gia đình. Hiện nay, hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau không ai quan tâm, chăm sóc cho nhau và chị cảm thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Rmah P. Chị và anh Rmah P có 03 con chung tên là Rmah Phill-L, sinh ngày 02-6-2001, Rmah H’Lu S, sinh ngày 03-12-2003 và cháu Rmah H’La N, sinh ngày 08-9-2010. Đối với Rmah Phill-L đã trên 18 tuổi và đã lập gia đình nên chị không yêu cầu giải quyết, còn đối với Rmah H’LuS và cháu Rmah H’La N hiện nay đang sống với chị, anh Phen không quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng các con nên chị có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Phen phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger