Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

-------

Bản án số 15/2021/DS - ST

Ngày: 25/01/2021

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trí Trường
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Huỳnh Anh Dũng
    2. Phạm Thị Ánh Tuyết

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Hồ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2020/TLST - DS, ngày 14 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2020/QĐXX – ST ngày 21/12/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng H

Địa chỉ: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Cao Hồng S ; Chức vụ: Giám đốc chi nhánh tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện theo ủy quyền của ông Cao Hồng S là bà Đặng Huỳnh N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Đường Đinh Tiên Hoàng, phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: bà Trần Thị M, sinh năm 1973 (vắng)

Địa chỉ: ấp Thông Quan, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ngân hàng H trình bày:

Ngày 28/6/2018 Ngân hàng H có ký với bà Trần Thị M hợp đồng sử dụng thẻ (bao gồm đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), số hợp đồng 356480-5198.

Căn cứ vào thu nhập của bà M Ngân hàng H cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) số thẻ là 356480-5198.

Trong quá trình sử dụng thẻ bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng H. Ngân hàng H đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu bà M thực hiện nghĩa vụ nhưng bà M không thực hiện. Do vậy Ngân hàng H yêu cầu bà Trần Thị M có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng H đến ngày 08/12/2020 cụ thể như sau: Nợ gốc: 12.711.521đồng và lãi 8.500.615đồng và yêu cầu bà M tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ. (Có bảng sao kê việc bà M sử dụng tiền kèm theo)

Bị đơn bà Trần Thị M vắng mặt không có lí do.

Ý kiến nguyên đơn tại tòa: Ngân hàng H yêu cầu bà Trần Thị M trả số tiền nợ gốc: 12.711.521 đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/01/2021 số tiền là 9.263.287 đồng và yêu cầu bà M tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Thị M không đến tòa án cũng không có bản khai ý kiến của mình. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần 02 nhưng bà M vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị M.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của H yêu cầu bà Trần Thị M phải hoàn trả cho H toàn bộ số nợ, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/01/2021 số tiền 12.711.521đồng vốn gốc và 9.263.287đồng lãi quá hạn. Yêu cầu bà M tiếp tục trả lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cấp thẻ tín dụng mà phía H đã ký kết với bà M. Qua các tài liệu phía H cung cấp cho thấy; Bà M đã được H cấp thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000đồng, quá trình sử dụng vốn vay, bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và nợ tiền lãi đến ngày 25/01/2021 số tiền là 9.263.287đồng. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án bà M không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của H, nên Hội đồng xét xử buộc bà Trần Thị M có trách nhiệm trả cho H số tiền vốn gốc là 12.711.521 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm ( ngày 25/01/2021) số tiền là 9.263.287đồng.

[2.2] Xét yêu cầu tính lãi suất chậm trả của H yêu cầu bà M phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng sau ngày xét xử sơ thẩm, đây là tình huống tương tự án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cáo thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án tòa án nhân dân tối cao. Do đó Hội đồng xét xử buộc bà Trần Thị M phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cấp thẻ tín dụng, kể từ ngày 26/01/2021 đến ngày bà M trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

[2.4] Về án phí: Buộc bà Trần Thị M phải nộp 1.098.740đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; 147; 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463; 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 luật tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cáo thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc chị Trần Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc 12.711.521đ (Mười hai triệu bảy trăm mười một ngàn năm trăm hai mươi mốt đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/01/2021) là 9.263.287đ (chín triệu hai trăm sáu mươi ba ngàn hai trăm tám mươi bảy đồng).

Buộc bà Trần Thị M phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 26/01/2021 đến ngày bà M trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

2/ Về án phí: Buộc bà Trần Thị M phải nộp 1.098.740đ ( Một triệu không trăm chín mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền 491.000đ (Bốn trăm chín mươi mốt ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0006128 ngày 14/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4/ Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú./.

Nơi nhận:

- TAND Tỉnh;

- VKSND Long Hồ;

- THADS Long Hồ;

- Các đương sự;

- Lưu VP, HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Phạm Trí Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2021/DS - ST ngày 25/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2021/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/01/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger