|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 15/2021/DS - PT Ngày 25 – 5 – 2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | ông Nguyễn Văn Dũng |
| Các Thẩm phán: | ông Phạm Quốc Bảo ông Bùi Xuân Liêm |
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLPT - DS ngày 05 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS - ST ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2021/QĐ - PT ngày 05 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 19xx), chị Nguyễn Thị T (sinh năm 19yy); Cùng địa chỉ: thôn P , xã Đ, huyện N, tỉnh Q.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Văn Q: ông Trần Hải A, Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ. - Bị đơn: bà Châu Thị S, sinh năm 19xx; Địa chỉ: thôn P , xã Đ, huyện N.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị T. S, Đoàn luật sư tỉnh Q. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đồng Phước Châu H, sinh năm 19xx; trú tại: thôn P , xã Đ, huyện N, tỉnh Q.
Người kháng cáo: bị đơn Châu Thị S; Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện N.
Các đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự có mặt tại phiên tòa. Luật sư Trần Hải A, anh Đồng Phước Châu H vắng mặt khi tuyên án; bà Châu Thị S có đơn xin vắng mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Sau khi phát hiện diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi chỉnh lý biến động không đúng so với diện tích đất 249m², thuộc thửa đất số 819, tờ bản đồ số 05 mà các bên đã thỏa thuận trong giao dịch đặt cọc lập ngày 22 tháng 4 năm 2019 với giá chuyển nhượng là 3.500.000.000 đồng, cho rằng bà Châu Thị S đã vi phạm hợp đồng đặt cọc nên anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị T khởi kiện, yêu cầu bà S trả lại 500.000.000 đồng tiền đặt cọc đã nhận cọc ngày 22 tháng 4 năm 2019.
Bà Châu Thị S xác định hai bên có lập hợp đồng đặt cọc như nguyên đơn trình bày. Bà không đồng ý trả lại tiền cọc cho các nguyên đơn vì sau khi nhận tiền đặt cọc, bà S đã nói cho phía nguyên đơn biết diện tích đất thỏa thuận sẽ chuyển nhượng đã bị nhà nước thu hồi một phần để làm đường Quốc lộ 1 A nhưng vợ chồng anh Q vẫn chấp nhận mua, hẹn khi nào ra công chứng sẽ giao số tiền còn lại; sau khi nhận cọc, do gia đình có chuyện nên bà S đề nghị trả tiền cọc thì anh Q không đồng ý mà còn yêu cầu phạt cọc gấp 3 lần; khi làm xong giấy tờ, ra phòng công chứng thì vợ chồng anh Q thay đổi, không nhận chuyển nhượng đất nữa.
Anh Đồng Phước Châu H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, xác định anh H có tham gia lập hợp đồng đặt cọc và tại thời điểm đó anh H có nói cho anh Q biết khả năng diện tích đất này sẽ bị thu hồi để mở rộng đường giao thông nhưng anh Q, chị T vẫn thống nhất lập hợp đồng đặt cọc.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS - ST ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Q và Nguyễn Thị T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc với bị đơn Châu Thị S, buộc bà Châu Thị S trả cho anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 01 năm 2021, bị đơn Châu Thị S kháng cáo bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Trong quá trình tố tụng tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn thì thấy:
[2.1]. Về thủ tục tố tụng: Việc kháng cáo của bà Châu Thị S được thụ lý đúng điều kiện, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Về nội dung:
[2.2.1]. Về hiệu lực của giao dịch đặt cọc: Các đương sự thừa nhận đã tự nguyện thỏa thuận các nội dung trong giao dịch đặt cọc lập ngày 22 tháng 4 năm 2019 để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 249m², thuộc thửa đất số 819, tờ bản đồ số 05, tại thôn S, xã T, huyện N. Đây là các tình tiết, sự việc không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bản án sơ thẩm nhận định giao dịch đặt cọc giữa các bên hợp pháp, có hiệu lực.
[2.2.2]. Về yêu cầu trả lại tiền cọc của nguyên đơn:
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: nguyên nhân dẫn đến việc bên mua không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà với bị đơn là do không đồng ý đề xuất của bị đơn về giá chuyển nhượng sau khi diện tích đất bị giảm 12,7m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía bị đơn căn cứ vào giá thỏa thuận ban đầu, trừ đi giá trị quyền sử dụng đất đã giảm để đề xuất giá chuyển nhượng là quan điểm mang tính thiện chí, phù hợp với quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Phía nguyên đơn lấy lý do diện tích đất giảm, đưa ra mức giá chuyển nhượng bằng 57% giá thỏa thuận ban đầu trong khi diện tích đất bị giảm không ảnh hưởng đến mặt tiền, công năng sử dụng đất, chỉ chiếm 0,51% tổng diện tích đất giao dịch là không thiện chí, thể hiện mong muốn từ chối thực hiện giao kết hợp đồng.
Đối chiếu kết quả tranh tụng tại phiên tòa với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quy định của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định: đủ cơ sở thực tiễn và chứng cứ chứng minh phía bị đơn không vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, nhưng phía nguyên đơn từ chối việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà, không thực hiện đúng cam kết tại hợp đồng đặt cọc. Theo đó, bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại tiền nhận cọc 500.000.000 đồng cho các nguyên đơn là không phù hợp với thực tế sự kiện pháp lý đã xảy ra.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 293, khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 14, 328, 443, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS - ST ngày 04/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc buộc bà Châu Thị S phải trả cho anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- Về án phí và chi phí tố tụng: (Chi tiết về việc hoàn trả và chịu án phí của các bên).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 25 tháng 5 năm 2021.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại ĐN; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - TAND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký và đóng dấu) Nguyễn Văn Dũng |
Bản án số 15/2021/DS - PT ngày 25/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 15/2021/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/05/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại tiền đã nhận cọc
