Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 15/2021/DS-PT Ngày: 14 - 4 – 2021

V/v tranh chấp hơp̣ đồng bảo hiểm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lưc̣

    Các Thẩm phán: Ông Trần Đứ c Long Bà Từ Thị Hải Dương

  • Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thuý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình: Bà Nguyễn Thị Hường

  • Kiểm sát viên.

    Ngày 14/4/2021, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2021/TLPT- DS ngày 06/01/2021 về việc tranh chấp hơp̣ đồng bảo hiểm do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS – ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2021/QĐ-PT ngày 26/3/2021, giữa các đương sự:

    1. Nguyên đơn: Ông Nguyên tỉnh Quảng Bình; có măṭ;

      Văn C; địa chỉ thường trú : thôn T, xã Đ, huyên B,

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

      +Ông Lê Minh T – Luâṭ sư Văn phòng luâṭ sư H thuôc Đoàn Luâṭ sư tỉnh

      Quảng Bình; địa chỉ : số 72 đường T, phường Đ, thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình ; có măṭ;

      +Ông Nguyên Hữu L – Luật sư Văn phòng luâṭ sư M , thuôc Đoàn Luâṭ sư

      thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số 276 đường C, quân T, thành phố Đà Năñ g; có mặt;

    2. Bị đơn: Tổng Công ty Bảo hiểm B; địa chỉ: số 104, phố T, phường C, quân H, thành phố Hà Nội;

      Người đại diện theo pháp luâṭ: Ông Nguyên Xuân V – Tổng Giám đốc;

      lưc

      Người đaị diêṇ theo uỷ quyêǹ theo Giấy uỷ quyêǹ số 373/UQ-BHBV, có hiệu ngày 25/01/2021:

      măṭ;

      +Người thứ nhất: Ông Dương Anh D – Phó Giám đốc phụ trách Công ty B; có

      +Người thứ hai: Ông Nguyên có mặt;

      Đình H – Phó Phòng bảo hiểm số 2 – Công ty B;

      +Người thứ ba: Ông Phan D1 – Chuyên viên Ban Pháp chế và Kiểm tra nôi bô – Tổng Công ty Bảo hiểm B; có mặt;

    3. Người có quyền lơi và nghia vu ̣ liên quan:

      +Công ty B; đia chỉ cư trú : đường Pham Văn Đ , phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;

      Người đaị diên có mặt;

      theo pháp luật: Ông Dương Anh D – Phó Giám đốc phụ trá ch;

      +Bà Trần Thi ̣H1; đia có mặt;

    4. Người làm chứ ng:

chỉ thường trú: Thôn T, xã Đ, huyên

B, tỉnh Quảng Bình;

+Ông Võ Văn S; đia

chi:

Thôn Đ, xã Đ, huyên

B, tỉnh Quảng Bình; có mặt;

+Ông Nguyên Bình; vắng măṭ;

+Ông Nguyêñ Bình; có mặt;

Xuân Đ ; điạ Quang T ; đia

chỉ: Số 266 đường L , thành phố Đ , tỉnh Quảng chỉ: Số 266 đường L , thành phố Đ , tỉnh Quảng

măṭ;

+Ông Trần Ngoc

Y, đia

chi:

Số 266 đường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có

+Ông Nguyên có mặt;

Đình H; đia

chi:

Đường Phạm V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;

+Ông Mai Quốc T 2; đia Bình; có mặt;

chỉ: Đường Phạm Văn Đ, thành phố Đ , tỉnh Quảng

+Ông Mai Duy N; đia có mặt.

chi:

Đường Phạm Văn Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiên và các ý kiêń trình bày trong quá trình giải quyêt́ vu ̣ án ,

quan điểm của Nguyên đơn ông Nguyên Văn C như sau:

Ngày 20/6/2019, Công ty B đã cấp Giấy chứ ng nhân bảo hi ểm tàu cá số

3019151 mang số hiêu QB -92246-TS, thờ i han bảo hiêm̉ từ n gày 20/6/2019 đến hết

ngày 19/6/2020, kèm theo Hoá đơn GTGT thu phí bảo hiểm số 0001972 do Công ty B phát hành ngà y 26/6/2019 với số tiền là 67.650.000 đồng cho chủ tàu cá QB -92246-

TS là ông Nguyên Văn C , sau khi hai bên ký Hơp đồng bảo hiêm̉ thân tàu cá va

thuyền viên. Về pháp lý thì ông C đã thưc hiên đầy đủ nghia vu ̣ và trách nhiêm của

người tham gia bảo hiểm nên Công ty B mới có căn cứ để cấp Hoá đơn giá tri ̣gia tăng

và kèm theo là Giấy chứ ng nhân Bảo hiêm̉ tàu cá theo quy điṇ h của Luâṭ Bảo Hiêm̉ .

Trong lúc đang hoaṭ đông đánh bắt cá ngoài khơi thì găp nan và bi ̣chìm vào lúc

15 giờ ngày 26/8/2019, tất cả thuyền viên đã đươc tàu cá QB -02689-TS của ông

Nguyên Văn H3 cứ u hô ̣ vào bờ an toàn.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, ông C đã hơp đồng với ông Nguyên Văn B ở quân

S, thành phố Đà Nẵng để trục vớt tàu theo chỉ đạo của Công ty B. Cùng ngày ông

Nguyên Xuân Đ và ông Nguyên Quang T là nhân viên của Công ty B đã chuyên̉ sô

tiền 150.000.000 đồng bằng Uỷ nhiêm chi taị Vietcombank cho ông Nguyên

Văn B để

thưc hiên hơp đồng truc vớt. Vì thời tiết quá xấu nên viêc truc vớt bất thành.

Ngày 08/10/2019, Công ty B có Công văn số 343/BVQB-GĐBT về viêc g iải

quyết tổn thất thân tàu cá QB -92246-TS bi ̣chìm ngày 26/8/2019 tại vùng biển Đà

Nẵng. Nôi dung C ông văn cho rằng t ổn thất chìm tàu QB -92246-TS xảy ra ngày

26/8/2019 không thuôc trách nhiêm bồi thường của Công ty B.

Không đồng tình với cách giải quyết của Công ty B nên ông C đã có đơn kêu

́ u đến cuc Quản lý giám sát bồi thường Bô ̣Tài chính . Ngày 17/10/2019, Cục Quản

lý giám sát Bộ Tài chính đã có Công văn số 884/QLBT-PNT gử i Tổng Công ty Bảo hiểm B yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm B báo cáo kết quả giải quyết vụ việc trên trước ngày 24/10/2019. Ngày 24/10/2019, Tổng Công ty Bảo hiểm B có Công văn sô

6386/BHBV-GĐBTHH phúc đáp nội dung cho rằng ông C không đưa ra đươc bất cư

giấy tờ chứ ng minh nào liên quan đến viêc nôp phi.

Ngày 07/11/2019, Công ty B đã có Công văn số 393/BVQB-GĐBT, nôi dung

cho rằng viêc Công ty B xuất hoá đơn giá tri ̣gia tăng số 0001927 ngày 20/6/2019 cho ông Nguyêñ Văn C là đúng theo quy định của Nhà nước , nhưng khách hàng Nguyêñ

Văn C chưa thanh toán phí bảo hiểm cho Công ty B theo số tiền ghi trên hoá đơn nó i

trên. Viêc xuất hoá đơn là để hac̣ h toán doanh thu phát sinh và tao điêù kiên cho

khách hàng nợ phí bảo hiểm không quá 30 ngày, do đó vụ tổn thất chìm tàu

QB92246TS xảy ra ngày 26/8/2019 không thuôc trách nhiêm bồi thường bảo hiểm.

Công ty B cho rằng viêc cấp hoá đơn GTGT và theo đó là giấy chứ ng nhân

Bảo hiểm tàu cá , nhưng chưa thu phí bảo hiểm nhằm tao điêù kiên cho khách hàng ,

thế nhưng kể từ ngày cấp hoá đơn GTGT 20/6/2019 cho đến khi tàu bị nạn thì phía

Công ty B chưa môt lần thông báo hoăc điên thoaị cho chủ tàu về khoản phí chưa

nôp̣ . Mãi cho đến khi ông C có thông báo sự cố tàu bị chìm thì cán bộ của Công ty B

́i điên thoaị cho ông Võ Văn S cùng với vợ ông C là bà Trần Thi ̣H 1 đến Ngân

hàng để chuyển tiền cho Công ty B. Đó là điều bất thường dẫn đến Công ty B từ chối bồi thường thiêṭ haị cho tàu cá QB-92246-TS.

Viêc đóng Bảo hiêm̉ của ông C đúng theo quy điṇ h của pháp luâ ṭ , nên đã đươc

UBND tỉnh Quảng Bình hỗ trơ ̣ taị Quyết điṇ h số 502/QĐ-UBND ngày 26/02/2020 với số tiền để mua bảo hiểm là 31.200.000 đồng. Do đó , đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới xem xét đánh giá khách quan các chứng cứ mà ông C đã cung

cấp để buôc Công ty B có trách nhiệm bồi thường thiêṭ haị cho ông C theo Giấy chứ ng nhâṇ bảo hiêm̉ tàu cá ́i số tiêǹ là 7.800.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông C thay đổi yêu cầu , theo đó yêu cầu số tiêǹ đươc̣

nhân là 6.710.000.000 đồng, bao gồm 6.000.000.000 đồng là số tiền mà Tổng Công ty

Bảo hiểm B phải trả theo Hợp đồng bảo hiểm và 710.000.000 đồng tiền lai từ ngày 26/8/2019 đến ngày 26/11/2020.

-Người đaị diên the o uỷ quyêǹ , ông Dương Anh D Phó Giám đốc phụ trách

Công ty B có ý kiến như sau:

Tàu cá số hiêu QB-92246-TS tham gia bảo hiêm̉ tai Công ty B theo điêù kiên A

– Quy tắc bảo hiểm tàu cá của Bảo hiểm B (QTTC/BV-2016), số đơn bảo hiểm

3019151 cấp ngày 20/06/2019, thời han bảo hiêm̉ từ ngày 20/06/2019 đến ngày

19/06/2020, hạn nộp phí theo một kỳ duy nhất ngày 19/07/2019. Ngày 26/08/2019,

tàu QB-92246-TS do chủ tàu Nguyên Văn C làm thuyền trưởng trên đường đi khai

thác hải sản thì xảy ra tai nạn chìm đắm tại vị t rí có toạ độ (16o23’N – 108o21’E)

thuôc vùng biên̉ Đà Năñ g.

Căn cứ vào x ác nhận chi phí và Uỷ nhiệm chi t hánh toán số No 1 ngày

27/08/2019 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và các hồ sơ liên quan , xác

nhân chủ tàu QB-92246-TS đã nôp phí bảo hiêm̉ vào ngày 27/08/2019, ngay sau khi

xảy ra tổn thất chìm tàu (26/08/2019) là vi phạm điều khoản thanh toán phí quy điṇ h

trên Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ số 3019151 và Hợp đồng bảo hiểm.

Mục 2, Điều 13 Quy tắc bảo hiểm tàu cá QTTC /BV-2016 quy điṇ h: “ Hiêu lưc

của Giấy chứng nhận bảo hiểm: Trong moi trườ ng hơp măc dù Bảo Viêt đã chấp nhân

bảo hiểm và đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc giấy sửa đổi bổ sung (nếu có )

cho Ngườ i đươc bảo hiêm̉ , hiêu lưc bảo hiêm̉ của tà u sẽ tự đông chấm dứ t ngay sau

khi phá t sinh mộ t trong những trườ ng hơp sau :…a). Ngườ i đươc bảo hiêm̉ không

thanh toá n phí bảo hiểm đầy đủ và đú ng han theo quy điṇ h tai điêm̉ 2 Điều 17 của

Quy tắc nà y (trừ khi có thoả thuân khá c bằng văn bản)”.

Hơp đồng bảo hiểm số QBI.D6.TC.19.HD3019151 ký kết giữa chủ tàu Nguyên

Văn C và Công ty B có quy định rõ “Bên B có trá ch nhiêm thanh toá n phí bảo hiêm̉

theo cá c kỳ và thờ i han đươc quy điṇ h trong Hơp đồng /Thông bá o thu phí . Trườ ng

hơp bên B không đóng đủ phí bảo hiêm̉ theo thờ i han thanh toá n phí bảo hiêm̉ , Hơp

đồng bảo hiểm sẽ tự đông chấm dứ t hiêu lưc sau khi hết thờ i han thanh toá n phí bảo

hiểm của kỳ đến han thanh toá n và sau đó cũng sẽ tự đông đươc khôi phuc hiêu lưc

ngay sau khi bên B thanh toá n khoản phí chưa nôp kể trên, nhưng không phá t sinh bất

́ trá ch nhiêm nà o của bên A đối vớ i tổn thất (có thể) đã xảy ra đối vớ i đối tương

bảo hiểm vào khoảng thời gian từ khi hơp đồng bảo hiêm̉ chấm dứ t hiêu lưc do châm

thanh toá n phí cho đến ngà y bên B thanh toá n đầy đủ phí bảo hiểm của kỳ đó”.

Do đó , tổn thất chìm tàu QB -92246-TS ngày 26/08/2019 không thuôc̣

trách

nhiêm bồi thường bảo hiêm̉ theo giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ số 3019151 cấp ngày 20

tháng 06 năm 2019.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty B: Công ty B

không chấp nhân ý kiến của Nguyên đơn đưa ra, vì sau khi tàu chìm phía nguyên đ ơn

́i nôp phí bảo hiêm.̉ Về ý kiêń ông C cho rằng ông Nguyên

Xuân Đ và ông Nguyên

Quang T bỏ số tiền 150 triêu đồng cho ông Bảy để truc

́t tàu , thì viêc này Công ty

B không biết và cũng không xuất tiền cho viêc trục vớt tàu.

Ý kiến của người làm chứng ông Nguyên Xuân Đ : Năm 2019, ông Đ bán bảo

hiểm cho ông C, thủ tục hợp đồng làm theo quy trình của Tổng Công ty Bảo hiểm B .

Sau khi tàu bị tai nạn, ông Đ đã điên cho ông S báo cho chủ tàu nộp phí, sau đó bà H1

(vợ ông C) đã nôp tiề n vào tài khoản của Công ty B. Sau khi tàu găp tai nan

taị Đa

Nẵng, chủ tàu báo với Công ty B, Lãnh đạo Công ty đã ký giấy giới thiêu

cho ông Đ

và ông T1 (là lái xe), ông H1, ông N vào giúp để truc vớt tàu, nhưng vì bao to, gió lớn

nên không tru c vớt đươc . Sau đó ông Đ chuyên̉ công viêc , nên không biêt́ gì thêm .

Theo ông Đ tàu chưa nộp bảo hiểm , nhưng Công ty B thiếu sự đôn đốc thu phí , nên

hai bên có thể thương lương.

Ý kiến của người làm chứng ông Nguyên Quang T: Năm 2019, ông T có nhận

thông tin ông C mua bảo hiểm và giới thiêu cho phòng kinh doanh. Sau khi tàu tai

nạn, ông C đã báo với Bảo hiểm, Công ty B đã ̉ cán bô ̣ đi giám đ ịnh, nhưng vì ảnh

hưởng bao nên không truc vớt đươc tàu . Căn cứ th eo Điêù 8.1 và Điều 13 của Hợp

đồng thì Bảo hiểm phải bồi thường cho ông C.

Ý kiến của người làm chứ ng – các ông Nguyên Đình H 1, Mai Duy N , Mai

Quốc T1: Ngày 26/8/2019, sau khi nhân đươc thông tin về tàu cá của ông C bị chìm,

Lãnh đạo Công ty đã cử các ông vào Đà Nẵng làm việc với T rạm kiểm s oát biên phòng Mân Quang thuộc Bộ chỉ huy biên phòng Đà Nẵng để nắm bắt thông tin ban

đầu về v ụ việc, trên xe có ông N cùng đi. Sau khi vào làm viêc taị Đồn biên Phòng ,

xác định tàu cá bị chìm hồi 15h ngày 26/8/2019, các ông về laị Công ty báo cáo sư

viêc trên.

Bản án số 29/2020/DS-ST ngày 26/11/2020 của Toà án nhân dân thành phô

Đồng Hới đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 385, 386, 398, 401 của Bô ̣ luâṭ dân sự 2015; các Điều 12, 13, 15, 18 của Luâṭ Kinh doanh Bảo hiểm, xử:

  1. Không chấp nhân yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn ông Nguyên Văn C về

    viêc yêu cầu Tổng Công ty B phải trả số tiền bảo hiểm Tàu cá QB -92246-TS la

    6.710.000.000 đồng (sáu tỷ bảy trăm mười triệu đồng ), trong đó tiề n yêu cầu bồi

    thường thiêṭ haị do tàu bi ̣chìm 6.000.000.000 đồng, tiền lai 710.000.000 đồng.

  2. Buôc Tổng Công ty B trả lại số tiền nộp bả o hiêm̉ 67.650.000 đồng cho ông

    Nguyên Văn C.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm , căn cứ Điều 147 Bô ̣ luâṭ Tố tung Dân sư, khoản 1

Điều 13, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy điṇ h về án phí, lê ̣phí Toà án, xử :

-Buôc ông Nguyên Văn C phải chịu án phí 57.355.000 đồng, nhưng đươc khấu

trừ số tiền tam ứ ng án phí ông đã nôp 28.950.000 đồng taị B iên lai thu tam ứ ng án

phí, lê ̣phí Toà án số 0005400 ngày 12/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành

phố Đồng Hới . Số tiền còn t hiếu 28.405.000 đồng buôc ông C phải nộp để sung quỹ Nhà nước.

-Tổng Công ty Bảo hiểm B không phải chiu án phi.

Bản án sơ thẩm còn tuyên việc chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án ; quyền

thoả thuận, yêu cầu, tự nguyên hoăc bi ̣cươñ g chế thi hành án và vấn đề thời hiêu

thi

hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy điṇ h pháp luâṭ.

Trong han

luâṭ điṇ h , ngày 9/12/2020, ông Nguyên

Văn C kháng cáo, nôi

dung

không chấp nhân phán quyế t của án sơ thẩm , đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ nôi

dung án sơ thẩm, buôc cho ông.

Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả số tiền 6.710.000.000 đồng

Ngày 11/1/2021, ông Nguyên

Văn C có gửi kháng cáo bổ sung , nôi

dung cho

rằng án sơ thẩm xác điṇ h các ông Nguyên Xuân Đ và Nguyên Quang T là người làm

chứ ng là không đúng , họ phải là những người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan; đồng

thời giải thích laị nôi dung kháng cáo ngày 9/12/2020, theo đó ch ỉ đề nghị c ấp phúc

thẩm buôc Tổng Công ty Bảo hiêm̉ B phải trả số tiền 6.710.000.000 đồng, không đề

nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ nội dung án sơ thẩm.

Ngày 5/2/2021, ông Nguyên Văn C tiêṕ tuc có văn bản gử i Toà án nhân d ân

tỉnh Quảng Bình tiêu đề ghi “Đơn kháng cáo bổ sung ”, nôi dung cho rằng trong giai

đoan xet́ ̉ sơ thẩm và taị đơn kháng cáo , ông có thay đổi không yêu cầu Tổng Công

ty Bảo hiểm B bồi thường số tiền 7.800.000.000 đồng cùng với khoản tiền lai như đơn

khởi kiên mà chỉ yêu cầu bồi thường với số tiêǹ 6.000.000.000 đồng và 710.000.000

đồng tiền lai là do muố n chia sẻ ́t khó khăn cho Tổng Công ty Bảo hiêm̉ B . Nay

thấy phía Bảo hiểm không có thái độ h ợp tác, tìm cách né tránh trách nhiệm , nên ông giữ nguyên yêu cầu về vấn đề bồi thường như Đơn khởi kiêṇ .

Ngày 5/1/2021, bà Trần Thi ̣H1 là người có quyền lơi nghia vu ̣ liên quan có đơn

kháng cáo , nôi dung cho rằng án sơ thẩm không chấp nhân yêu cầu khởi kiên của

nguyên đơn – Ông Nguyên Văn C là không đúng; đề nghị TAND tỉnh Quảng Bình xét

̉ phúc thẩm buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường theo giá trị hợp đồng đã ký.

Ông Võ Văn S theo xác điṇ h của Á n sơ thẩm là người làm chứ ng , nhưng ngày

5/1/2021 có văn bản tiêu đề ghi là đơn kháng cáo, nôi dung cho rằng bản thân mình la

người có quyền lơi , nghĩa vụ liên quan , đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử đúng

pháp luật để bảo vệ quyền, lơi ích hơp pháp của bên tham gia bảo hiêm̉ .

Tại phiên toà phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết

vụ án, nôi dung cho rằng Thẩm phán , Hôi

đồng xét xử , Thư ký phiên toà và những

người tham gia tố tung đã tuân thủ các quy điṇ h pháp luâṭ tố tung trong giai đoan xét

̉ phúc thẩm; về đường lối giải quyết vu ̣ án đề nghi ̣Hôi quyết điṇ h của án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

đồng xét xử y án sơ thẩm vi

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Ngày 20/6/2019, Công ty B và ông Nguyên Văn C ký kết hợp đồng số

    QBI.D6.TC.19.HD3019151 về bảo hiểm thân tàu cá và thuyền viên , theo đó về bảo hiểm thân tàu , số tiền bảo hiểm là 7.800.000.000 đồng, với phí bảo hiểm là

    62.400.000 đồng. Sau khi ký kết hơp đồng , phía Công ty B đã cấp cho ôn g Nguyên

    Văn C Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ số 3019151 và xuất H oá đơn giá trị gia tăng số 0001927, theo đó taị côṭ tên hàng hoá dic̣ h vu ̣ ghi bảo hiêm̉ tàu cá và bảo hiểm thuyền

    viên tàu QB-92246-TS; tại cột số tiền ghi số tiền 62.400.000 đồng và 5.250.000 đồng.

  2. Ngày 26/8/2019 trên đường đi khai thác hải sản, tàu QB-92246-TS do chủ tàu

    Nguyên Văn C làm thuyền trưởng gặp tai nạn chìm tàu tại vị trí có toạ độ (16o23’N –

    108o21’E) thuôc vùng biên̉ Đà Năñ g. Về sự cố này phía Tổng Công ty Bảo hiêm̉ B và

    Công ty B cho rằng taị đi ểm 8.2.1 của Hợp đồng QBI.D6.TC.19.HD3019151 mà hai bên đã ký kết quy điṇ h phí bảo hiểm phải thanh toán tron g vòng 30 ngày, kể từ ngày

    Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực ; đồng thời muc 2 Điêù 13 Quy tắc bảo hiêm̉ tàu ca

    QTTC/BV- 2016 ban hành theo Quyết điṇ h số 5373/QĐ-BHBV ngày 16/11/2016 của

    Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm B cũng quy định rõ: “Trong moi trườ ng hơp

    măc dù Bảo Viêt đã chấp nhân bảo hiêm̉ và đã cấp Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ hoăc

    Giấy sử a đổi bổ sung (nếu có ) cho Ngườ i đươc bảo hiêm̉ , hiêu lưc bảo hiểm của tàu

    sẽ tự động chấ m dứ t ngay sau khi phá t sinh môt trong những trườ ng hơp sau : a)

    Ngườ i bảo hiểm không thanh toá n phí bảo hiểm đầy đủ và đú ng han theo quy điṇ h tai

    điểm 2 Điều 17 của Quy tắc nà y (trừ khi có thoả thuân khá c bằng văn bản )”. Do đo

    đã ̀ chối viêc bồi thường tổn thất do tai nan nói trên, vì việc có nộp phí bảo hiểm của

    ông Nguyên Văn C thưc hiên sau môt tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực và sau

    ngày xảy ra tai nạn chìm tàu . Phía N guyên đơn ông Nguyên Văn C và N gười co

    quyền lơi nghĩa vụ liên quan b à Trần Thị H1 cho rằng ông Nguyên Văn C đã ký Hơp

    đồng bảo hiểm thâ n tà u và thuyền viên với Công ty B, đã đươc Công ty B cấp Giấy

    chứ ng nhân bảo hiêm̉ , xuất H oá đơn Giá tri ̣gia tăng , nên Công ty B phải có trách

    nhiêm bồi thường đối với tai nan chìm tàu ngày 26/8/2019 theo Hợp đồng đã được hai

    bên ký kết.

  3. Về tranh chấp giữa hai bên nói trên thấy rằng theo quy điṇ h taị Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị điṇ h số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/1/2014 của

    Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng, cung ứ ng dic̣ h vu , tại điểm a khoản 2 Điêù

    16 có quy định: “Ngà y lâp hoá đơn đối vớ i cung ứ ng dic̣ h vụ là ngày hoàn thành việc

    cung ứ ng dic̣ h vụ, không phân biêt đã thu đươc tiền hay chưa thu đươc tiền” . Do đo

    theo quy điṇ h pháp luâṭ này , từ ngày 20/6/2019 phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của

    Công ty B, không phân biêṭ viêc ông Nguyên Văn C đã nôp phí bảo hiêm̉ hay chưa .

    Tuy vây ở đây có vấn đề thiêú rõ ràng , minh bac̣ h mà hai bên chưa làm rõ khi ký kêt́

    hơp đồng và nhất là khi xuất Hoá hơn g iá trị gia tăng , đó là khi Công ty B xuất Hoá

    đơn giá tri ̣gia tăng 0001927 có đồng nghĩa với việc Công ty có trách nhiêm cung ứ ng

    dịch vụ bảo hiểm trong suốt thời hạn bảo hiểm (từ ngày 20/6/2019 cho đến hết ngày 19/6/2020), và khi đó số phí mà ông C chưa đóng trở thành khoản nợ mà Công ty B

    có quyền đòi ngay cả sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc, hay viêc xuất hoá đơn này

    chỉ bảo đảm cho việc cung ứng d ịch vụ bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, nếu sau thời hạn 30 ngày mà phí bảo hiểm chưa được nôp̣ , thì việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm sẽ chấm dứ t . Do đó H oá đơn này có đươc̣

    xem như là thoả thuân khác bằng văn bản về hiêu lưc của Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉

    quy điṇ h taị Điều 13 mục 2 Quy tắc bảo hiểm tàu cá QTTC/BV-2016 hay không? Nếu

    cho rằ ng viêc xuất Hoá đơn này nhằm bảo đảm việc cung ứ ng dic̣ h vu ̣ trong thời hạn

    30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng thì cũng không t hoả đáng, vì bản thân trong Hợp

    đồng đã quy điṇ h rõ hiêu

    lự c hơp

    đồng có ̀ ngày ký H ợp đồng và thời hạn thanh

    toán phí bảo hiểm trong vòng 30 ngày kể từ ngày Hợp đồng có hiệu lực. Như vậy nếu

    không có viêc xuất Hoá đơn thì theo Hợp đồng, trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký kết

    Hơp đồng, phía Công ty Bảo hiểm vẫn phải bảo đảm việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm

    cho người mua bảo hiểm trong trường hơp người mua bảo hiêm̉ chưa nôp phí . Ở giai

    đoan xet́ ̉ sơ thẩm , cũng như các văn b ản gửi cho Toà án Công ty B đều có ý kiến

    cho rằng viêc xuất hoá đơn giá tri ̣gia tăng của Công ty B là tạo điều kiện cho khách

    hàng nợ phí bảo hi ểm trong thời hạn 30 ngày, tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm , khi

    Hôi đồng xet́ ̉ hỏi với nôi dung là bản thân Hợp đồng cũng đã quy điṇ h người mua

    phí bảo hiểm được nợ phí bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày, cũng như trước đây khi Công ty B chưa đưa ra quy điṇ h xuất hoá đơn giá tri ̣gia tă ng vào ngày ký kết hơp̣

    đồng trong trường hơp người mua bảo hiểm chưa đóng phí thì người mua bảo hiểm

    vân đươc cung ứ ng dic̣ h vu ̣ bảo hiêm̉ trong 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng , vây ý

    nghĩa của việc xuất hoá đơn giá trị gia tăng đối với người mua bảo hiểm là ở chỗ nào,

    ông Dương Anh D – Phó giám đốc Công ty trả lời với nôi dung là mục đích của việc

    xuất hoá đơn giá trị gia tăng là để người mua bảo hiểm có đủ điều kiện được UBND tỉnh Quảng Bình hỗ trơ ̣ 50% kinh phí mua bảo hiểm thân tà u và bảo hiểm thuyền

    viên. Như vây theo ý kiêń trả ̀i của ông D, có thể thấy viêc UBND tỉnh Quảng Bình

    quy điṇ h hồ sơ xin hỗ trơ ̣ kinh phí mua bảo hiểm của các chủ tàu cá phải có hoá đơn giá trị gia tăng là nhằm tránh những trường hợp không dùng tiền được hỗ trợ để mua

    bảo hiểm. Tuy vâỵ , nếu cho rằng tuy đã đươc Công ty Bảo Việt Quảng Bình xuất hoa

    đơn giá tri ̣gia tăng nhưng trong thời han 30 ngày, kể từ ngày ký Hơp

    đồng , người

    mua bảo hiểm không nôp phí bảo hiêm̉ thì Hơp đồng bảo hiêm̉ sẽ tự đôn

    g chấm dứ t

    hiêụ buôc

    lực như ý kiến của Công ty B , thì yêu cầu của UBND tỉnh Quảng Bình về viêc hồ sơ xin hỗ trơ ̣ kinh phí của các chủ tàu cá phải có hoá đơn giá tri ̣gia tăng để

    tránh trường hợp các chủ tàu cá nhận tiền hỗ trợ nhưng không dùng tiền hỗ trợ đó để

    mua bảo hiểm cũng không có ý nghĩa gì, vì điều này vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, chỉ có cách lý giải là sau khi được xuất hoá đơn giá trị gia tăng , khoản nợ phí bảo hiểm của

    các chủ tàu cá đã tham gia ký kết Hơp đồng bảo hiêm̉ là khoản nợmà các chủ tàu ca

    có nghĩa vụ phải trả , ngay cả khi hết t hời han bảo hiêm̉ ghi trong H ợp đồng mới giải

    thích được một cách thoả đáng quy điṇ h của UBND tỉnh Quảng Bình.

  4. Đối với chủ tàu tham gia bảo hiểm, Thông báo thu phí bảo hiểm là loaị giấy

    ̀ quan trong, có ý nghĩa nhắc nhở cũng như là căn cứ để họ đóng phí bảo hiểm theo

    yêu cầu của C ông ty bảo hiểm . Điều này thể hiên ở các quy điṇ h sau trong quá trình

    hai bên ký kết hơp đồng : Tại khoản 8.1 Điêù 8 của Hợp đ ồng

    QBI.D6.TC.19.HĐ3019151 mà hai bên đã ký kết quy định rõ : “Phí bảo hiểm đươc

    tính cho tàu và ghi cụ thể trên Giấy chứng nhận và /hoăc thông bá o thu phí bảo hiêm̉

    của tàu. Thông bá o thu phí bảo hiểm cho tà u đươc đính kè m và được coi là phụ l ục

    không thể tá ch rờ i của Hợp đồng bảo hiểm này. Bên B có trá ch nhiêm thanh toá n phí

    bảo hiểm theo đúng th ời hạn được quy định trong Hợp đồng / Thông bá o thu phí . Phí bảo hiểm được thanh toán bằng Vi ệt Nam đồng” . Và tại mục điều kiện , điều khoản,

    quy tắc cam kết và ̉ a đổi bổ sung của Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ mà Công ty B cấp

    ngày 20/6/2019 cũng có quy định về thông báo thu phí như sau : “Giấy chứ ng nhân

    bảo hiểm này và (các) sử a đổi bổ sung liên quan chỉ có hiêu lưc khi phí bảo hiêm̉

    đươc thanh toá n đầy đủ và đú ng han như đươc quy điṇ h trên Giấy chứ ng nhân bảo

    hiểm nà y và thông bá o thu phí kè m theo , trừ khi có thoả thu ận khác bằng văn bản

    giữa Bảo hiểm Bảo Việt và người được bảo hiểm”. Như vây theo các quy điṇ h này thi

    Công ty B phải có trách nhiêm phát hành T hông báo thu phí bảo hiêm̉ kem̀ theo H ợp

    đồng bảo hiểm và Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ để gia o cho ông Nguyên Văn C , tạo

    điều kiên cho ông C thưc hiên đúng nghĩa vụ của mình theo hơp đồng đã ký kêt́ . Tuy

    vây trong thưc tế Công ty B đã không thưc hiên quy điṇ h này, dân đêń làm cho Người

    mua bảo hiểm găp khó khăn trong viêc hiêủ và thưc hiên Hợp đồng.

  5. Do sự thiếu rõ ràn g trong viêc xuất H oá đơn giá trị gia tăng và không phát

    hành Thông báo thu phí của Công ty B như đã nói ở trên, dân đêń ngay bản thân Công

    ty B cũng có những viêc làm thiêú nhất quán sau khi tai nan chìm tàu QB -92246-TS

    xảy ra. Cụ thể sau tai nạn xảy ra một ngày, ông Nguyên Văn C mới thanh toán phí bảo

    hiểm, nhưng Công ty B không từ chối trách nhiêm bảo hiêm̉ ngay từ đầu , mà vẫn cử

    nhân viên của mình là các ông Nguyên Xuân Đ, Mai Quốc T1, Nguyên Đình H1, Mai

    Duy N vào Đà Nẵng để giải quyết vụ chìm tàu liên quan đến trách nhiệm bảo hiểm

    của mình. Chỉ khi xác định khô ng thể truc vớt đươc T àu, Công ty B mới thể hiên

    rõ

    quan điểm là vụ chìm tàu QB-92246-TS ngày 26/8/2019 không thuôc trách nhiêm của

    Công ty B. Cũng vì sự không rõ ràng nói trên mà ng ay cả môt số nhân viên của Công

    ty B tại thời điểm xảy ra v ụ chìm tàu cũng cho rằng Công ty B phải có trách nhiệm bồi thường trong vu ̣ chìm tàu cá QB -92246-TS. Cụ thể tại bút lục 146, ông Nguyêñ

    Xuân Đ nguyên là nhân viên Công ty B có ý kiến như sau : “Sau khi tai nan xảy ra ,

    tôi đã goi điên cho anh S là tàu chưa nộp phí và thông báo chủ tàu nộp tiền và anh S

    cùng vợ chủ tàu đã nộ p tiền và o tà i khoản của Công ty B. Khi tà u bi ̣tai nan ở Đa

    Nẵng, Chủ tàu có báo với Công ty B và lãnh đạo Công ty B (có giấy giới thiệu kè m

    theo) đã ̉ tôi và anh T 1 lái xe, anh Nguyên Đình H1, anh Mai Duy N là cán bộ Bảo

    Viêt thờ i điêm̉ đó có và o để giú p chủ tà u truc vớ t ”. “Theo tôi thì chủ tà u chưa nôp

    phí, nhưng bên cạnh đó Công ty B cũng chủ quan thiếu đôn đốc thông bá o thu phí và chấm dứ t hợp đồng vớ i tà u QB-92246-TS. Nên Công ty và Chủ tàu có thể thống nhất

    thương lương giải quyết môt cá ch tốt nhất cho hai bên”. Tại Bút lục 145, ông Nguyên

    Quang T, nguyên là nhân viên Công ty B cũng có ý kiến như sau : “Thiết nghĩ trong Hợp đồng thể hiện rõ tại cá c Điều 8.1 và Điều 13 của Hợp đồng đã quy điṇ h rõ, nên

    đề nghị Toà xử cho anh C đươc hưởng quyền lơi bảo hiêm̉ theo quy điṇ h”.

  6. Tại điểm 8.2.1 thuôc khoản 8.2 Điêù 8 của Hợp đồng

    QBI.D6.TC.19.HĐ3019151 có quy định: “Thờ i han thanh toá n phí bảo hiêm̉ : Thanh

    toán toàn bộ phí trong vòng 30 ngày kể từ ngày H ợp đồng bảo hiểm có hiệu lực

    (châm nhất đến hết ngà y 30/7/2019)”. Tại Điêù 13 về hiêu lưc của Hơp đồng này quy

    điṇ h Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày hai bên đã ký. Như vây điêm̉ 8.2.1 của Hợp

    đồng vừ a quy điṇ h người mua bảo hiểm – ông Nguyên Văn C phải thanh toán toàn bộ

    phí bảo hiểm trong khoảng thời gian từ ngày 20/6/2019 đến ngày 20/7/2019, lại vừa quy điṇ h ông C phải thanh toán toàn bộ phí bảo hiểm trong khoảng thời gian từ ngày

    20/6/2019 đến ngày 30/7/2019. Mâu thuân

    này làm cho ngay trong Hợp đồng mà hai

    bên đã ký kết không xác điṇ h rõ đươc vấn đề rất quan trong là thời han thanh toán phi

    bảo hiểm. Đây là sơ suất, sai sót của cả hai bên trong viêc ký kêt́ Hợp đồng. Lẽ ra sau

    khi ký kết H ợp đồng, hai bên phải có trách nhiêm cùng nhau sử a đổi H ợp đồng để

    khắc phuc sai sót trên, tuy vây cả hai bên đã không làm đươc điêù này.

  7. Về các kháng cáo bổ sung các ngày 11/1/2021, 5/2/2021 của ông Nguyên

    Văn C với nôi dung Á n sơ thẩm xác điṇ h các ông Nguyên Xuân Đ , Nguyên Quang T

    là người làm chứng là không đúng , họ phải là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan;

    yêu cầu bi ̣đơn bồi thường số tiền 7,8 tỷ đồng cùng lãi ; Hôi đồng xet́ ̉ phúc thẩm

    thấy rằng các nôi dung này vươt quá nôi dung kháng cáo ngày 9/12/2020, đồng thời

    đây là kháng cáo quá han nên không xem xet́ giải quyêt́ .

  8. Về Văn bản của ông Võ Văn S gử i Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 5/1/2021 với tiêu đề đơn kháng cáo, Cấp phúc thẩm thấy rằng mặc dù trước đó TAND thành phố Đồng Hới có triệu tập ông Võ Văn S đến tham gia với tư cách người có quyền lơị , nghĩa vu ̣ liên quan, nhưng sau đó Bản án sơ thẩm đã xác địn h ông Võ Văn

    S tham gia tố tung trong V ụ án này với tư cách người làm chứng . Viêc xác điṇ h như

    vây là đúng đắn vì ông S chỉ là người giúp ông Nguyên Văn C trong viêc liên hê ̣với

    các nhân viên Công ty B để làm các thủ tuc cho viêc ký kêt́ H ợp đồng bảo hiểm , tứ c

    là có biết một số việc liên quan đến vụ kiện , ông Sơn không có quyền lơi và nghia vu

    gì trong vụ án này . Măṭ khác văn bản ông Võ Văn S gử i TAND tỉnh Quảng Bình sau

    15 ngày kể từ ngà y xét xử sơ thẩm vu ̣ án và nôi dung trong đơn không liên quan đêń

    quyền và nghĩa vụ của ông S. Do đó, Toà án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu này của ông Võ Văn S.

  9. Về đơn kháng cáo của bà Trần Thi ̣ H1 yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm B bồi thường thiêṭ hại chìm tàu theo giá trị Hợp đồng đã ký, thấy rằng bà Trần Thị H1 là

    người có quyền lơị , nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độ c lâp, yêu cầu của bà H 1

    hoàn toàn t hống nhất với yêu cầu theo Đ ơn khởi kiê ̣n và Đ ơn kháng cáo của ông

    Nguyên Văn C ; măṭ khác Đ ơn gử i đêń Toà án sau thời han 15 ngày được kháng cáo

    kể từ ngày xét xử sơ thẩm, vì vậy cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

  10. ́i các phân tích tai các đoạn [3], [4],[5],[6] thấy rằng viêc thời han, thủ

    tục có phải chờ thông báo thu phí hay không để bên mua bảo hiểm nộp phí bảo hiểm

    không đươc xác điṇ h rõ ràng , minh bac̣ h, dân đêń khi tai nan chìm tàu QB -92246-TS

    xảy ra, hai bên đều lý giải theo cách riêng của mình có lỗi ngang nhau từ phía hai bên là bên bán và bên mua dịch vụ bảo hiểm . Do đó đối với thiêṭ haị này mỗi bên phải chịu 50% trách nhiệm. Cụ thể theo Điều 4 của Hợp đồng quy định số tiền bảo hiểm

    thân tàu là 7.800.000.000 triêu đồng và trong trường hơp xảy ra tổn thất toàn bô ̣ thưc

    tế thì bên A sẽ bồi thường tổn thất theo giá tri ̣thưc tế của tàu taị thời điêm̉ xảy ra tổn

    thất đươc điṇ h giá ̉i C ông ty, tổ chứ c điṇ h giá đôc lâp đươc các bên đồng ý chi

    điṇ h, thưc hiên tuân thủ theo các quy điṇ h của pháp luâṭ . Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm

    cả hai phía Nguyên đơn và B ị đơn chưa tiế n hành viêc thống nhất chỉ định tổ chức

    điṇ h giá giá tri ̣thưc tế của tàu QB -92246-TS taị thời điêm̉ chìm tàu theo quy định tại

    Hợp đồng, cũng như không có ý kiến gì về vấn đề này . Ngày 11/3/2021, TAND tỉnh

    Quảng Bình có công văn số 354/TA, yêu cầu các bên cho biết ý kiến về viêc chấp

    nhân giá tri ̣tàu taị thời điêm̉ xảy ra chìm tàu là 7,8 tỷ đồng, hay thưc hiên viêc điṇ h

    giá như quy định tại Điều 4 Hợp đồng, nhưng phía Tổng Công ty Bảo hiểm B không có ý kiến; Công ty B tại Công văn số 72/BVQB/GĐBT ngày 18/3/2021 cho rằng thời

    điểm tàu xảy ra tổn thất Giấy chứ ng nhân bảo hiêm̉ không có hiêu lưc , nên không

    phát sinh sự kiên bảo hiêm̉ , vì vậy Bảo hiểm Bảo Việ t không thưc hiên thẩm điṇ h lai

    giá tàu. Phía ông Nguyên Văn C cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Tổng Công

    ty Bảo hiểm B không đưa ra yêu cầu giám điṇ h tài sản , nghĩa là đồng ý giá trị tài sản

    tranh chấp 7,8 tỷ đồng. Do đó Hôi đồng xet́ ̉ xác điṇ h thiêṭ haị vu ̣ chìm tàu QB -

    92246-TS là 7,8 tỷ đồng, Nguyên đơn và B ị đơn mỗi bên phải chịu 50% đối với thiêṭ hại này, cụ thể mỗi bên phải chịu 3,9 tỷ đồng.

  11. Nghĩa vụ chi trả số tiền 3,9 tỷ đồng của Tổng Công ty Bảo hiểm B đươc̣ xác định từ ngày 1/10/2019, tứ c là sau 15 ngày kể từ ngày ông C có văn bản gửi Công ty B thông báo sự cố chìm tàu và yêu cầu giải quyết (16/9/2019) theo quy điṇ h ta ̣ i Điều 29 Luâṭ kinh doanh bảo hiểm. Do đó thời gian từ ngày 1/10/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm vu ̣ án 26/11/2020 (1 năm 1 tháng 25 ngày), Bị đơn phải chịu thêm số tiền

    lãi của số tiền 3,9 tỷ đồng theo quy định tại Điều 357 Bô ̣ luât Dân sư. Cụ thể số tiền

    lãi này là: 3,9 tỷ đồng x (13 tháng + 25/30 tháng) x 10/12%/tháng = 3,9 tỷ đồng x (13

    + 5/6) tháng x 10/12% /tháng = 449.583.000 đồng. Như vây , tổng số tiêǹ mà Tổng

    Công ty Bảo hiểm B phải chi trả cho ôn g Nguyên Văn C do vu ̣ tai nan chìm tàu QB -

    92246-TS là 4.349.583.000 đồng. Số tiền này chưa vươt quá số tiêǹ mà ông Nguyên

    Văn C yêu cầu đươc nhân khi thưc hiên viêc thay đổi yêu cầu khởi kiên taị P hiên toa sơ thẩm.

  12. Do đó cần chấp nhân môt phần kháng cáo của ông Nguyên Văn C, sử a án

sơ thẩm, buôc Tổng Công ty Bảo hiêm̉ B phải bồi thường cho ông Nguyên Văn C sô

tiền 4.349.583.000 đồng, do vu ̣ tai nan chìm tàu cá QB -92246-TS xảy ra ngày

26/8/2019 tại vùng biển thành phố Đà Nẵng.

[13]. Do cấp phúc thẩm sử a án sơ thẩm , nên theo khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí , lê ̣phí Toà án, án phí được xác định như sau:

  • Tổng Công ty Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là : 112 triêu đồng

    + 0,1% x (4.349.583.000 đồng – 4.000.000.000 đồng) = 112.349.583 đồng.

  • Ông Nguyên Văn C thuôc diên đươc giảm 50% án phí theo quy định tại khoản

1 Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội về án phí, lê ̣phí Toà án, nên phải chiu án phí dân sự sơ thẩm là:

½ x [72.000.000 đồng + 2% x (2.360.417.000 đồng – 2.000.000.000 đồng)] = ½ x [72.000.000 đồng + 2% x 360.417.000 đồng] = ½ x (72.000.000 đồng + 7.208.340

đồng) = ½ x 79.208.340 đồng = 39.604.170 đồng.

-Ông Nguyêñ Vì các lẽ trên,

Văn C không phải chiu

án phí dân sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40,

Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bô ̣ luâṭ Tố tung D ân sự; các Điều 12, 13, 14, 15, 29

Luâṭ kinh doanh bảo hiểm ; khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâṭ Dân sự; khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí , lê ̣phí Toà án , tuyên xử :

  1. Chấp nhân môt phần kháng cáo của N guyên đơn ông Nguyên Văn C , buôc

    Bị đơn là Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường cho ông Nguyên Văn C số tiêǹ

    4.349.583.000 đồng, do xảy ra vu ̣ tai nan chìm tàu cá QB -92246-TS vào ngày

    26/8/2019 tại vùng biển thành phố Đà Nẵng.

  2. Tổng Công ty Bảo hiểm B không phải trả laị số tiền phí bảo hiểm

67.650.000 đồng mà ông Nguyên Văn C đã nôp vào tài khoản của Tổng Công ty Bảo

hiểm B sau khi xảy ra vu ̣ chìm tàu cá QB-92246-TS.

3.-Tổng Công ty Bảo hiểm B phải chịu 112.349.583 đồng án phí dân sự sơ

thẩm.

-Ông Nguyên Văn C phải chịu 39.604.170 đồng án phí dân sự sơ thẩm , đươc

trừ số tiền tam ứ ng án phí đã nôp là 28.950.000 đồng taị Biên lai thu tam ứ ng án phi

lê ̣phí toà án số 0005400 ngày 12/2/2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phô

Đồng Hới, số tiền còn phải nôp tiêṕ là 10.654.170 đồng.

-Ông Nguyên Văn C không phải chiu án phí dân sự phúc thẩm.

Kể từ ngày có đ ơn yêu cầu thi hành án của N gười đươc thi hành án cho đêń

khi thi hành xong k hoản tiền bồi thường trên , Bên phải thi hành án còn phải chiu

khoản tiền lãi của số tiền còn phải th i hành theo mứ c lai suất quy điṇ h taị khoản 2

Điều 468 Bô ̣ luâṭ Dân sự năm 2015 (do đây là trường hơp các bên không có thoa

thuâṇ ). Trường hơp bản án đươc thi hành theo quy điṇ h taị Điêù 2 Luâṭ thi hành án

dân sư, thì người đươc thi hành án dân sự , Người phải thi hành án dân sự có quyêǹ

thoả thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án , bị cưỡng

chế thi hành án theo quy điṇ h taị các Điều 6,7,9,7a,7b Luâṭ thi hành án dâ n sự năm

2008 và Luật sửa đổi , bổ sung môt số điêù của Luâṭ thi hành án dân sự năm 2014;

thời hiêu thi hành án dân sự đươc thưc hiên theo quy điṇ h taị Điêù 30 Luâṭ thi hành

án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luâṭ kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Quảng Bình;

  • Chi cục THADS TP Đồng Hới;

  • TAND TP Đồng Hới;

  • Các đương sự;

  • Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký) Hoàng Quảng Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2021/DS-PT ngày 14/04/2021 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

  • Số bản án: 15/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger