|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN —————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————— |
|
Bản án số: 14a/2024/HNGĐ - PT |
|
|
Ngày 09/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Quỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam và bà Trần Thị Mỹ Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2024/TLPT- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2024/QĐPT-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Xuân H, sinh năm: 1960; Nơi ĐKNKTT: P314CTA Chung cư C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị T; sinh ngày 27/8/1963; nơi ĐKNKTT: P314CTA, chung cư C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn, bà Trần Thị T.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 7 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, ông Ngô Xuân H trình bày:
Ông và bà Trần Thị T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 03/02/1988.Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ghen tuông vô cớ, cãi vã xúc phạm lẫn nhau. Trong cuộc sống chung vợ chồng, bà T không tôn trọng ông, bạo hành ông bằng lời nói và tư tưởng. Ông cũng đã cố gắng để hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Để tránh va chạm và mâu thuẫn, ông đã về quê (thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) sống cùng với bố mẹ đẻ đã gần 10 năm nay. Trong quá trình sống ly thân, bà T đã có quan hệ tình cảm với người khác nhưng vẫn nhắn tin xúc phạm ông. Bản thân bà T cũng không còn tình cảm với ông nên tháng 02/2022 bà T đã làm thủ tục ly hôn, tuy nhiên sau đó bà T rút đơn ly hôn.
Trong thời gian sống ly thân giữa vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin được ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung là Ngô Trí D, sinh năm 1988 và Ngô Thị Thúy Q, sinh năm 1993. Nay các con đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.
Bị đơn, bà Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân bà đã nghe rõ lời trình bày của ông H, bà thừa nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như ông H trình bày là đúng. Bà không đồng ý với ý kiến ông H về quá trình vợ chồng chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn. Theo bà, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, yêu thương nhau cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành và xây dựng kinh tế gia đình như ngày hôm nay.
Ông H cho rằng do mâu thuẫn vợ chồng nên ông H phải về quê sinh sống là không đúng. Năm 2008, ông H làm ăn thua lỗ dẫn đến Công ty ông H bị phá sản, phải bán xe trả nợ, không có công ăn việc làm, thời điểm đó bố mẹ ông H cũng già yếu nên ông H về quê sinh sống để phụng dưỡng bố mẹ già ở xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Từ thời điểm đó, một mình bà lao động cật lực để nuôi hai con ăn học và chăm lo kinh tế gia đình để ông H yên tâm chăm sóc bố mẹ. Bà là giảng viên tại trường Cao đẳng S nên ngoài thời gian dạy chính khóa tại trường, bà còn giành thời gian dạy thêm tại các trường cũng như dạy tại nhà. Do điều kiện cuộc sống mà vợ
2
chồng phải sống mỗi người một nơi, nhưng giữa bà và ông H không có mâu thuẫn gì. Bà đã nuôi dạy các con trưởng thành, có công ăn việc làm ổn định; ngày giỗ tết bà đều về tự lấy tiền của mình để mua sắm và làm mâm cỗ cho gia đình bên nội và đối với ông H năm 2021, ông H bị đột quỵ, điều trị tại bệnh viện, bà tận tình chăm sóc và mua những loại thuốc tốt nhất để điều trị cho ông H. Mặc dù vợ chồng sống ly thân nhưng bà vẫn làm tròn bổn phận của người vợ, người mẹ, người con dâu là vì bà vẫn còn tình cảm với ông H.
Tháng 2/2022, bà có nộp đơn ly hôn, thời điểm đó ông H bàn với bà vợ chồng già cần có nhau để nương tựa tuổi già, đồng thời bàn với bà làm thủ tục tặng cho con trai Ngô Trí D lô đất số 45 khu E; diện tích 108m2 tại Khu đô thị M, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Nguồn gốc lô đất này là tài sản riêng của bà tích góp mua được khi vợ chồng sống ly thân), sau này vợ chồng già thì đã có đất của bố mẹ ông H để lại. Do đó bà đã rút đơn xin ly hôn và làm thủ tục tặng cho con trai lô đất trên. Nay ông H có quan hệ với người phụ nữ khác nên nộp đơn xin ly hôn, bà không đồng ý. Bà thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, bản thân bà vẫn còn tình cảm với ông H và cả hai đã lớn tuổi nên cần có chỗ dựa về cả vật chất lẫn tinh thần.
Về con chung: Bà T và ông H có 2 người con chung như ông H trình bày. Nay các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T không đồng ý ly hôn, nên bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Về nợ: Bà T và ông H không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương, được chính quyền địa phương cung cấp: Ông H và bà T, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn cụ thể như thế nào Ban Cán sự khối không rõ nhưng ông H và bà T đã sống ly thân nhiều năm nay.
Với nội dung trên, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 227, khoản 4 Điều 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Ngô Xuân H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Ngô Xuân H và bà Trần Thị T.
Bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 19/3/2024, bà Trần Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm vì quyết định của bản án không bảo đảm quyền lợi cho bà.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ông Ngô Xuân H không đồng ý với nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên nội dung của bản án sơ thẩm.
Phát biểu của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý, giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trược thời điểm nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bà Trần Thị T, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bà Trần Thị T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm nên không phải nộp. Trả lại tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục kháng cáo: Bà Trần Thị T làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nội dung và hình thức đơn phù hợp quy định pháp luật; có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận để xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, bà Trần Thị T:
[2.1] Về tình cảm: Bà Trần Thị T và ông Ngô Xuân H có đăng kết hôn ngày 03/02/1988tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện.
Xét thấy, sau khi ông H và bà T kết hôn được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù ông H cho rằng hai người đã sống ly thân nhau từ lâu, còn bà T cho rằng do hoàn cảnh gia đình ông H phải về quê sống để chăm lo cho cha mẹ già, bà vì công việc và nuôi con nên không về sống chung cùng ông H được chứ không phải là ly thân như ông H trình bày. Thấy rằng, thực tế ông H và bà T đã không sống cùng nhau một thời gian dài, mâu thuẫn giữa hai người là có thực. Cụ thể, tháng 02/2022 bà T đã làm đơn xin ly hôn với ông nhưng sau đó bà T rút đơn ly hôn. Và từ năm 2022 đến nay, ông H sinh sống tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An còn bà Trần Thị T sống tại P314CTA, chung cư C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ
4
An không ai qua lại thăm hỏi nhau, bà T nói đang còn tỉnh cảm với ông H và muốn về đoàn tụ nhưng bà T không thể hiện bất kỳ hành động nào chứng minh điều đó. Còn ông H khai là không còn tình cảm với bà T và cũng không muốn đoàn tụ với bà T.
[2.2] Về tài sản chung: Xét thấy, trong quá trình Tòa án sơ thẩm giải quyết vụ án, ông Ngô Xuân H không yêu cầu giải quyết về tài sản,bà T có trình bày và cung cấp cho Tòa án một số tài liệu liên quan đến tài sản chung của bà và ông H, tuy nhiên trong Biên bản lấy lời khai cũng như tại các phiên hòa giải, bà đã thống nhất do bà không muốn ly hôn với ông H nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu bà cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh nhưng bà không cung cấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã không giải quyết về tài sản chung trong cùng vụ án là có căn cứ pháp luật.
Theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định phạm vi xét xử phúc phẩm, do đó không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà T.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên nội dung của bản án sơ thẩm.
[3] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Trần Thị T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm, nên không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm. Trả lại tạm ứng án phí phúc thẩm bà T đã nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T, giữ nguyên nội dung của bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; 35; 39; 227; khoản 4 Điều 147; 271 và Điều 273 Lộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, 14, 15 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH 14 ngày 30/12/20216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử :
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Ngô Xuân H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Ngô Xuân H và bà Trần Thị T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho ông Ngô Xuân H.
5
Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị T phải không phải nộp. Trả lại cho bà Trần Thị T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0004419, ngày 03/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
6
Bản án số 14a/2024/HNGĐ - PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 14a/2024/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
