Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Ngọc Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Lê Hùng T, sinh năm 1991, tại Thanh Hóa; Thường trú: Thôn L, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (chết) và bà Cao Thị C; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Ngày 07/5/2019, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 03/9/2019 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù Trang bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử ngày 07/5/2019, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2021; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 20/6/2011 bị Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng; ngày 01/7/2017, bị Công an phường S, quận T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 06/7/2017, Lê Hùng T đã nộp phạt; Ngày 10/5/2018, bị công an P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 19/8/2018, Lê Hùng T đã nộp phạt. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023. (có mặt)

2/ Lê Văn T1, sinh năm 1991, tại Thanh Hóa; Thường trú Thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị S; hoàn cảnh gia đình: vợ Nguyễn thanh T2; con: chưa có; tiền án: Ngày 21/01/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2023; tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023.(có mặt)

3/ Lê Văn T3, sinh năm 1995, tại Thanh Hóa; Thường trú: Thôn M, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: Ngày 26/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm 09 tháng tù về các tội Giao cấu với trẻ em và Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2019, chưa bồi thường cho các bị hại; tiền sự: Ngày 22/12/2020 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, chấp hành xong ngày 12/5/2022; nhân thân: Ngày 20/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng. Ngày 18/12/2023, cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương ra quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024.(có mặt)

4/ Thạch Minh K, sinh năm 1999, tại Trà Vinh; Thường trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; chổ ở: T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch T4 và bà Thạch Thị Phi Á (chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 01 con sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/4/2015 bị công an huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích; ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành cong hình phạt tù ngày 26/10/2017; ngày 18/7/2018 bị Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 15.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ mà không có giấy phép. Ngày 26/7/2018, Thạch Minh K đã nộp phạt; ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2020; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023. (có mặt)

- Người bị hại:

  1. Ông Phạm Minh Q1, sinh năm: 1988
  2. Địa chỉ:C L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

  3. Bà Lê Thị Yến N, sinh năm: 2001
  4. Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.(vắng mặt)

  5. Ông Võ Ngọc D, sinh năm: 1989
  6. Địa chỉ: 6 T, khu phố E, phường M, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trình Thị H1, sinh năm: 1976. (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

  3. Bà Nguyễn Thị Kim K1, sinh năm: 1999. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Lê Hùng T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản rồi rủ Lê Văn T3, Lê Văn T1Thạch Minh K cùng tham gia trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. T3, T1K đều đồng ý. Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 14/10/2023, Lê Hùng T đã cùng với Lê Văn T3, Lê Văn T1, Thạch Minh K thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ 1: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 01/10/2022, Lê Hùng T rủ Lê Văn T3 đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, T3 đồng ý. Sau đó, T3 điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 85C1- 428.40 chở T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, T phát hiện dãy phòng trọ bên hông nhà số C L, phường T, quận T không khoá cửa cổng ra vào, nên nói T3 dừng xe đứng ngoài cách 05 mét để cảnh giới, còn T vào dãy phòng trọ để trộm cắp tài sản. T phát hiện cửa bên hông nhà số C L không khoá nên đi vào trong thì thấy tại phòng khách có dựng 01 xe máy hiệu Honda SH150i, biển số 59D2- 672.70 của anh Phạm Minh Q1. Lúc này, T lục tìm trong ngăn tủ bên cạnh thấy có chìa khoá của xe gắn máy biển số 59D2-672.70 nên T mở cửa chính đẩy xe ra ngoài rồi lấy chìa khóa khởi động xe và cùng tẩu thoát với T3. T điều khiển xe gắn máy biển số 59D2-672.70 đến gửi tại bãi giữ xe Bệnh viện quận T số F Â, phường P, quận T, rồi đưa thẻ giữ xe cùng chìa khóa cho T3 đem đi bán. T3 nhờ bạn tên T5 (chưa rõ rõ lai lịch) đem bán xe gắn máy biển số 59D2-672.70 (không rõ bán cho ai, ở đâu) được số tiền 20.000.000 đồng. T3 trả công cho T5 2.000.000 đồng, số tiền còn lại TT3 chia nhau mỗi người 9.000.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết.

Qua xác minh, xe gắn máy hiệu Honda SH150i màu trắng đen, biển số 59D2- 672.70 do anh Phạm Minh Q1, thường trú: C L, phường T, quận T đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh Q1 cho biết xe gắn máy trên anh Q1 mua vào tháng 10/2018 và đứng tên chủ sở hữu. (BL 356)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 2103/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 01/10/2022, kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda SH150i, màu trắng đen, biển số 59D2- 672.70 trị giá 82.000.000 đồng. (BL 401)

Về phần dân sự: Ông Phạm Minh Q1 yêu cầu Lê Hùng TLê Văn T3 bồi thường số tiền 82.000.000 đồng nhưng TT3 chưa bồi thường. (BL 356)

Vụ 2: Vào khoảng 02 giờ ngày 26/3/2023, Lê Hùng T rủ Lê Văn T1 đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, T1 đồng ý. T đưa xe xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 85C1- 428.40 cho T1 điều khiển chở T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 04 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến dãy phòng trọ nhà số A L, phường T, quận T, T nói T1 dừng xe đứng ngoài cảnh giới khoảng 10 mét, còn T vào dãy phòng trọ để trộm cắp tài sản. Khi đó, T phát hiện cửa phòng số 8 không khóa, T đẩy cửa phòng vào thấy chị Lê Thị Yến N và chị Lê Thị T6 V1 đang nằm ngủ nên lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng ở bên cạnh nệm, 01 laptop hiệu Lenovo ở trên bàn gỗ và số tiền 100.000 đồng trong hộp nhựa đều của chị N, rồi T cất vào túi số tiền 100.000 đồng và mang tất cả tài sản ra cho T6 giữ. Sau đó, T tiếp tục lấy cây tre và móc nhôm phơi quần áo làm thành cây móc, rồi quay lại lấy trộm túi xách của chị N treo trên tường thì bị chị N phát hiện tri hô, nên T cầm theo cây móc và giỏ xách bỏ chạy lên xe gắn máy cùng T6 tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, T ném bỏ cây móc và lục trong giỏ xách không có tài sản nên vứt bỏ túi xách trên đường (không nhớ địa chỉ). Sau đó, T mang tài sản trộm được đem bán (không nhớ bán cho ai, ở đâu) được số tiền 7.400.000 đồng, chia cho T6 3.400.000 đồng còn T giữ 4.000.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 678/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 24/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 26/3/2023, kết luận:

  • 01 máy laptop loại Lenovo màu đen, T460s I5 8 256 FHD trị giá 6.200.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng 128Gb trị giá 9.000.000 đồng.
  • 01 túi xách màu đen không rõ nhãn hiệu không xác định được giá trị tài sản do không rõ mã sản phẩm.

Tổng giá trị tài sản mà TT6 trộm cắp là 15.300.000 đồng. (BL 397)

Về phần dân sự: Bà Lê Thị Yến N yêu cầu Lê Hùng T, Lê Văn T1 bồi thường số tiền 15.200.000 đồng nhưng T, T1 chưa bồi thường. (BL 359)

Vụ 3: Vào khoảng 02 giờ ngày 14/10/2023, Lê Hùng T rủ Thạch Minh K đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, K đồng ý, T giao xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 85C1- 428.40 cho K điều khiển chở T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 04 giờ 25 phút cùng ngày, khi đến phòng trọ nhà số I đường T, phường T, quận T, T nói K dừng xe đứng ngoài cảnh giới khoảng 07 mét, còn T vào phòng trọ để trộm cắp tài sản. Sau đó, T đi bộ vào phòng trọ số 4 nhà số I đường T phát hiện cửa sổ không khóa, điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh dương của anh Võ Ngọc D đang cắm sạc bên cạnh cửa sổ nên T rút dây sạc lấy điện thoại bỏ chạy ra chỗ K, để K điều khiển xe máy chở tẩu thoát. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, T bán điện thoại đi động của anh D tại cửa hàng điện thoại trên đường K (không nhớ bán cho ai, ở đâu) được số tiền 1.100.000 đồng, chia cho K 500.000 đồng, còn T giữ 600.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết.

Đến khoảng 04 giờ ngày 08/12/2023, K điều khiển xe Yamaha Sirius biển số 85C1- 428.40 chở T, đi đến trước số nhà E, ấp E, xã V, huyện B thì bị Cơ quan Công an kiểm tra đưa về trụ sở làm việc. Qua truy xét, Công an đã bắt được Lê Văn T3, Lê Văn T1.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 2600/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 14/10/2023, kết luận: 01 điện thoại di động Oppo A17, 64Gb trị giá 2.250.000 đồng. (BL 395)

Về phần dân sự: Ông Võ Ngọc D yêu cầu Lê Hùng TThạch Minh K bồi thường số tiền 2.250.000 đồng nhưng T, K chưa bồi thường. (BL 352)

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hùng T, Lê Văn T3, Lê Văn T1Thạch Minh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 85C1- 428.40, số máy: 5C6K- 119759, số khung: RLCS5C6K0-DY119747, là xe gắn máy T sử dụng để đi trộm tài sản. T khai mua lại xe gắn máy của người nam thanh niên tên N1 (không rõ lai lịch) ở chợ Đ2 H với giá 4.000.000 đồng, không có giấy tờ xe.

Qua xác minh biển số 85C1- 428.40 là của xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy: JA39E1526004, số khung: RLHJA3919LY188148 do bà Nguyễn Thị Kim K1, thường trú: Ấp A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với bà K1 được biết: Ngày 02/9/2022, bà bị mất trộm xe gắn máy trên tại phòng trọ số 12 nhà số H H, phường A, quận T. Qua xác minh tại Công an phường A1, quận T không có tiếp nhận vụ việc mất trộm xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 85C1- 428.40 tại phòng số 12 nhà trọ 8 H, Phường A, quận T vào ngày 02/9/2022. (BL 363, 343, 366), bà K1 có yêu cầu không nhận lại biển số xe.

Qua xác minh số máy: 5C6K- 119759, số khung: RLCS5C6K0-DY119747 là của xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số: 78G1- 165.12 do bà Trình Thị H1, thường trú: Xã H, Thị xã Đ, tỉnh Phú Yên) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với bà H1 được biết: Xe gắn máy trên bà H1 mua vào tháng 01/2024 và đứng tên chủ sở hữu, đến năm 2022 thì bà H1 đưa xe cho con trai là ông Phạm Văn Đ1 đem vào Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Qua xác minh,ông Đ1 cho biết vào ngày 24/7/2022 do nhậu say nên ông Đ1 không nhớ mình nhậu ở quán nào, ở đâu và cũng không nhớ xe máy mình bị mất hay để ở chỗ nào. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe gắn máy trên cho bà H1 và bà H1 không có yêu cầu gì khác. (BL 339, 344,109, 88, 120, 121)

  • 01 áo thun tay ngắn màu đen cổ viền trắng, trên áo có logo chữ ITALY và 01 quần tây dài bằng vải màu đen, 01 đôi dép, là trang phục Trang mặc khi thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei 1: 357270092401171, số Imei 2: 357270092073459, là điện thoại T sử dụng để liên lạc đồng bọn đi trộm cắp tài sản.
  • 01 điện thoại di động hiệu Realme X3085, màu đen, số Imei 1: 862794051763352, số Imei 2: 862794051763345, là điện thoại K sử dụng để liên lạc cá nhân.
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133, màu đen, số Imei 1: 353677085257663, số Imei 2: 353677085257671, là điện thoại K sử dụng để liên lạc đồng bọn đi trộm cắp tài sản .
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA- 1034, số Imei 1: 354481092838246, số Imei 2: 354481097838241, là điện thoại T1 sử dụng để liên lạc với T để trộm cắp tài sản.
  • 06 đĩa DVD ghi lại hình ảnh diễn biến vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án);

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 60/PNK ngày 05/3/2024 của Công an quận T. (BL 108)

Tại Bản cáo trạng số: 147/CT-VKSQTP ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Văn T1Thạch Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch Minh K từ 01 năm đến 02 năm tù.
  • Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Hùng T từ 04 năm đến 05 năm tù.
  • Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T3 từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 14/10/2023, Lê Hùng T, Lê Văn T3, Lê Văn T1Thạch Minh K có hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 01/10/2022, Lê Hùng TLê Văn T3 có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Honda SH150i, màu trắng đen, biển số 59D2- 672.70 trị giá 82.000.000 đồng của ông Phạm Minh Q1, tại bên hông nhà số C L, phường T, quận T. Do đó đã phạm vào điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 26/3/2023, Lê Hùng TLê Văn T1 có hành vi trộm cắp 01 máy laptop loại Lenovo trị giá 6.200.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng trị giá 9.000.000 đồng, 01 túi xách màu đen không xác định được giá trị tài sản và số tiền 100.000 đồng của bà Lê Thị Yến N. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 15.300.000 đồng, tại phòng trọ số H nhà số A L, phường T, quận T thì bị bắt giữ.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, Lê Hùng TThạch Minh K có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Oppo A17 trị giá 2.250.000 đồng của ông Võ Ngọc D tại phòng trọ số 4 nhà số I đường T, phường T, quận T, thì bị bắt giữ.

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Lê Văn T1Thạch Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo.

Đối với đối tượng tên T5 (không rõ lai lịch) bán xe gắn máy dùm TT3, do không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, truy tìm khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, bị cáo T là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, còn đối với bị cáo T1, T3K là đồng phạm giúp cho bị cáo T khi thực hiện các vụ trộm cắp.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T, T1T3 đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 đối với các bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo T có ông nội được Nhà nước tặng nhiều huân chương trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Phạm Minh Q1 yêu cầu bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 bồi thường số tiền 82.000.000 đồng tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho ông Quân số tiền trên. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Phạm Minh Q1 số tiền là 82.000.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Minh Q1 số tiền là 41.000.000 đồng.

Lê Thị Yến N yêu cầu bị cáo Lê Hùng T, Lê Văn T1 bồi thường số tiền 15.200.000 đồng tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho bà N số tiền trên. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Lê Thị Yến N số tiền là 15.200.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Minh Q1 số tiền là 7.600.000 đồng.

Ông Võ Ngọc D yêu cầu bị cáo Lê Hùng TThạch Minh K bồi thường số tiền 2.250.000 đồng tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho ông D số tiền trên. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Võ Ngọc D số tiền là 2.250.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Võ Ngọc D số tiền là 1.125.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 85C1- 428.40, số máy: 5C6K- 119759, số khung: RLCS5C6K0-DY119747, là xe gắn máy T sử dụng để đi trộm tài sản. T khai mua lại xe gắn máy của người nam thanh niên tên N1 (không rõ lai lịch) ở chợ Đ2 H với giá 4.000.000 đồng, không có giấy tờ xe.

Qua xác minh biển số 85C1- 428.40 là của xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy: JA39E1526004, số khung: RLHJA3919LY188148 do bà Nguyễn Thị Kim K1, thường trú: Ấp A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với bà K1 được biết: Ngày 02/9/2022, bà bị mất trộm xe gắn máy trên tại phòng trọ số 12 nhà số H H, phường A, quận T. Qua xác minh tại Công an phường A1, quận T không có tiếp nhận vụ việc mất trộm xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 85C1- 428.40 tại phòng số 12 nhà trọ 8 H, Phường A, quận T vào ngày 02/9/2022. Bà K1 không có yêu cầu nhận lại biển số xe. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản của bà K1, bà không có yêu cầu nhận lại, tài sản không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Qua xác minh số máy: 5C6K- 119759, số khung: RLCS5C6K0-DY119747 là của xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số: 78G1- 165.12 do bà Trình Thị H1, thường trú: Xã H, Thị xã Đ, tỉnh Phú Yên) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với bà H1 được biết: Xe gắn máy trên bà H1 mua vào tháng 01/2024 và đứng tên chủ sở hữu, đến năm 2022 thì bà H1 đưa xe cho con trai là ông Phạm Văn Đ1 đem vào Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Qua xác minh,ông Đ1 cho biết vào ngày 24/7/2022 do nhậu say nên ông Đ1 không nhớ mình nhậu ở quán nào, ở đâu và cũng không nhớ xe máy mình bị mất hay để ở chỗ nào. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe gắn máy trên cho bà H1 và bà H1 không có yêu cầu gì khác. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun tay ngắn màu đen cổ viền trắng, trên áo có logo chữ ITALY; 01 quần tây dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép và biển số 85C1- 428.40.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133, màu đen, số Imei 1: 353677085257663, số Imei 2: 353677085257671; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei 1: 357270092401171, số Imei 2: 357270092073459; 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA- 1034, số Imei 1: 354481092838246, số Imei 2: 354481097838241.
  • Trả lại cho bị cáo K: 01 điện thoại di động hiệu Realme X3085, màu đen, số Imei 1: 862794051763352, số Imei 2: 862794051763345.
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 06 đĩa DVD ghi lại hình ảnh diễn biến vụ trộm cắp tài sản (Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 60/PNK ngày 05/3/2024)

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo T phải nộp 2.486.250 (hai triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo T3 phải nộp 2.050.000 (hai triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo T1 phải nộp 380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo K phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Lê Hùng T, Lê Văn T1, Lê Văn T3Thạch Minh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Hùng T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T3 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 (hai) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Thạch Minh K 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023

[3] Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Lê Hùng TLê Văn T3 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Phạm Minh Q1 số tiền là 82.000.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Minh Q1 số tiền là 41.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Lê Hùng TLê Văn T1 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Lê Thị Yến N số tiền là 15.200.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị Yến N số tiền là 7.600.000 đồng.

Buộc bị cáo Lê Hùng TThạch Minh K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Võ Ngọc D số tiền là 2.250.000 đồng. Cụ thể mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Võ Ngọc D số tiền là 1.125.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133, màu đen, số Imei 1: 353677085257663, số Imei 2: 353677085257671; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei 1: 357270092401171, số Imei 2: 357270092073459; 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA- 1034, số Imei 1: 354481092838246, số Imei 2: 354481097838241.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun tay ngắn màu đen cổ viền trắng, trên áo có logo chữ ITALY; 01 quần tây dài bằng vải màu đen; 01 đôi dép và biển số 85C1- 428.40.
  • Trả lại cho bị cáo K: 01 điện thoại di động hiệu Realme X3085, màu đen, số Imei 1: 862794051763352, số Imei 2: 862794051763345.
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 06 đĩa DVD ghi lại hình ảnh diễn biến vụ trộm cắp tài sản (Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 60/PNK ngày 05/3/2024)

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo T phải nộp 2.486.250 (hai triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo T3 phải nộp 2.050.000 (hai triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo T1 phải nộp 380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo K phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[8] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (1)
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (5);
  • - Phòng PC53 CА Тр. HCM (1);
  • - Nhà tạm giữ (2);
  • - Bị cáo (2);
  • - Bị hại (1)
  • - Người có QLNVLQ (2);
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (21)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger