|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-11-2023 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Phạm Thạch Út
- 2/ Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2023/TLST- HNGĐ ngày 3 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 208/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Võ Thị Yến L, sinh năm: 1991 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm B, thị trấn N, huyện T, An Giang
-Bị đơn: Anh Trương Văn V1, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 22/6/2023, nguyên đơn chị Võ Thị Yến L trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Văn V1 quen biết, tìm hiểu nhau và cùng thống nhất đi đến hôn nhân vào năm 2018. Chị và anh V1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 15/KH, ngày 21/2/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 đứa con chung. Trong thời gian chung sống gần đây vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong gia đình, anh có quan hệ với cô gái khác, vợ chồng ly thân nhau từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay, hiện tại chị xác định không còn tình cảm với anh V1. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trương Văn V1.
-Về con chung: Có 01 con chung tên là Trương Thị Bảo C, sinh ngày 18/3/2020. Hiện cháu đang sống với chị L. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu C, không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Văn V1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trương Văn V1 vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị L .Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của anh V1 tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì anh V1 hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở ấp H, xã H, huyện C, An Giang, nhưng anh V1 vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thị Yến L, cho chị L ly hôn với anh V1. Về con chung: Đề nghị giao cháu Trương Thị Bảo C cho chị L nuôi dưỡng, Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trương Văn V1 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh V1 vẫn vắng mặt không lý do. Còn chị Võ Thị Yến L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị Yến L và anh Trương Văn V1 theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Yến L và anh Trương Văn V1 kết hôn với nhau vào năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo đơn chị L trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 đứa con chung. Trong thời gian chung sống gần đây vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong gia đình, anh có quan hệ với cô gái khác, vợ chồng ly thân nhau từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay, hiện tại chị xác định không còn tình cảm với anh V1. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét thấy yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trương Văn V1. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẫn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh V1 cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị L. Hiện tại chị L xác định không còn tình cảm với anh V1. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị L cũng giữ nguyên nhận trình bày trong đơn là chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị L và anh V1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghị nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2]Về con chung: Có 01 con chung tên là Trương Thị Bảo C, sinh ngày 18/3/2020. Hiện cháu đang sống với chị L. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu C, không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Bảo C từ nhỏ sống với chị L được chị và gia đình chăm sóc, do đó để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu, nghị nên để chị L được nuôi cháu Bảo C là phù hợp, anh V1 không cấp dưỡng nuôi con do chị không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng. Chị L phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh V1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Võ Thị Yến L trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của chị Võ Thị Yến L được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Võ Thị Yến L. Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Yến L và anh Trương Văn V1.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 15/KH, ngày 21/2/2018 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang không còn có giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Trương Thị Bảo C, sinh ngày 18/3/2020. Hiện cháu đang sống với chị L. Sau ly hôn chị L được nuôi dưỡng cháu Bảo C, anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị L phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh V1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
- Về tài sản và nợ chung: Chị Võ Thị Yến L trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Yến L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004464 ngày 3/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Về kháng cáo: Chị Võ Thị Yến L và anh Trương Văn V1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 149/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 149/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Võ Thị Yến L. Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Yến L và anh Trương Văn V
