Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Bản án số: 149/2023/HS-ST

Ngày 28/8/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Hoan

Nguyễn Thị Ngọc Loan

Thư ký Toà án: bà Đào Thị Tuyền - Thư ký

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội tham

gia phiên tòa: Bà Đào Thị Mai Phương - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2023/TLST-HS ngày 01/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/11/2003; Giới tính: Nam; Quê quán (không đăng ký HKTT): X, Đ, Ứ, Hà Nội. Nơi cư trú: không nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết); Con bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1972); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: 01 tiền sự (đã hết thời hiệu): Ngày 14/7/2020, CA huyện T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với hình thức cảnh cáo. Tạm giữ ngày 26/4/2023; Tạm giam ngày 05/5/2023. Hiện tạm giam tại trại tạm giam số 2 - C. D chỉ bản số 203 do Công an quận T lập ngày 04/5/2023. Có mặt.

Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/4/2003; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: X, Đ, Ứ, Hà Nội. Nơi cư trú: không nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1968); Con bà: Nguyễn Thị S1 (sinh năm 1979. Tiền án, tiền sự: 01 tiền án (chưa xóa án tích): Ngày 25/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa - Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 05/7/2022). Tạm giữ ngày 26/4/2023; Tạm giam ngày 05/5/2023. Hiện tạm giam tại trại tạm giam số 2 - C. D chỉ bản số 204 do Công an quận T lập ngày 04/5/2023. Có mặt.

Nguyễn Văn N, sinh ngày 30/10/2006; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: khu A, Thị trấn H, huyện L, Phú Thọ; Nơi cư trú: không nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1978; Con bà: Nguyễn Thị T3 (đã chết); Gia đình có 02 anh em. Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự (chưa hết thời

1

hiệu): Ngày 11/5/2023 Công an thành phố V, Phú Thọ xử lý hành chính về hành vi không trả lại tài sản cho người khác do vay mượn thuê, mức phạt 1.250.000 đồng. Tạm giữ ngày 26/4/2023; Tạm giam ngày 05/5/2023. Hiện Bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 - CATP H. D chỉ bản số 202 do Công an quận T lập ngày 04/5/2023. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1978 (là bố đẻ); ĐKHKTT: khu A, thị trấn H, L, Phú Thọ. Có mặt.

Người bào chữa: ông Nguyễn Quang P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bị hại:

Anh Nguyễn Mạnh Q; sinh năm 2001; trú tại: số E ngõ E Triều K, Thanh Xuân N, T, Hà Nội; vắng mặt.

Anh Nguyễn Phú Đ; sinh năm 2003; trú tại: số E ngõ E Triều K, Thanh Xuân N, T, Hà Nội; vắng mặt.

Anh Trịnh Minh T4; sinh năm 2002; trú tại: số nhà A ngõ D K, H, T, Hà Nội; vắng mặt.

Anh Vũ Công H1; sinh năm 2002; trú tại: số nhà A ngõ D K, H, T, Hà Nội; vắng mặt.

Chị Lê Hoài A; sinh năm 2004; trú tại: số D T, phường M, quận H, Hà Nội; vắng mặt.

Anh Nguyễn Đức T5, sinh năm 2000; trú tại: nhà số C ngõ E N, Thanh Xuân N, T, Hà Nội; vắng mặt.

Anh Trần Văn H2; sinh năm 2002; trú tại: số nhà A ngõ D K, H, T, Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25/4/2023, tổ công tác Công an phường T, T, Hà Nội tuần tra trên địa bàn phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển 01 xe máy Honda wave màu trắng-bạc không biển kiểm soát chở Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T6 (sinh ngày 16/10/2007, trú tại: K, P, Phú Thọ) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, T, N và T6 đều khai nhận chiếc xe máy đang sử dụng do trộm cắp mà có và đầu thú về việc cùng với Nguyễn Văn T1 thực hiện hành vi trộm cắp xe máy tại nhiều nơi trên địa bàn quận T, Hà Nội. Cùng ngày, Nguyễn Văn T1 đến Công an phường T đầu thú. Cơ quan điều tra thu giữ của T1:

  • 01 điện thoại di động Iphone XR, số IMEI: 357356094121915, số IMEI: 357356094059487, lắp sim số thuê bao 0397524032 (đã qua sử dụng).
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29Y7 - 645.41 số khung RLHJA3928NY728732, số máy JA39E2922450 (đã qua sử dụng).

Cơ quan điều tra thu giữ của T:

  • 01 điện thoại di động Iphone 7 plus, 128GB, màu vàng, số IMEI: 353807082502049, lắp sim số thuê bao 0967197422.
  • 01 điện thoại di động Nokia 1280, màu đen, số IMEI: 355202206475012.
  • 01 xe máy Honda Wave, màu trắng bạc, số khung RLHJA392XNY432529, số máy JA39E - 2856772 (đã qua sử dụng).

2

  • 01 xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát: 30Z4 – 1273, số khung RLHHC12189Y069345, số máy HC12E - 1270222.
  • 01 xe máy Honda Airblade màu đen bạc, số khung RLHJF1804AY572995, số máy JF27E - 0596837.

Tại cơ quan điều tra, T1, T, N, T6 khai nhận cùng nhau thực hiện trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 24/4/2023, Nguyễn Văn T nhắn tin rủ Nguyễn Văn T1 đi trộm cắp tài sản cả hai đi về phòng trọ địa chỉ số I ngõ A B, K, Thanh X rủ Nguyễn Văn N và Nguyễn Ngọc T6 đi cùng nhưng T6 không đi. T1 điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc chở N và T đi đến trước số E ngõ E Triều K, Thanh Xuân N, T, Hà Nội phát hiện trước cửa nhà có dựng 02 chiếc xe máy, không người trông giữ: 01 xe máy Honda wave màu đen, biển kiểm soát 29Y7-645.41; 01 xe máy Honda Wave màu trắng bạc, biển kiểm soát 29Y7- 644.57. T, T1, N đi ra chân cầu đi bộ trước số E N, Thanh Xuân N, T, Hà Nội để bàn bạc, phân công nhiệm vụ: Tuấn, T1 vào nhà số E để thực hiện hành vi trộm cắp, N đứng ở ngoài chân cầu đi bộ trông xe và cảnh giới. Sau đó T và T1 đi bộ vào số nhà E, kiểm tra thấy 02 xe không khóa cổ, khóa càng liền dắt ra đầu ngõ. T và T1 đi bộ ra chân cầu gặp N để tiếp tục bàn bạc, N chở T1 bằng xe Honda Wave vào đầu ngõ vị trí dựng 02 xe vừa trộm cắp. Đến nơi T1 ngồi lên xe Honda Wave màu đen, N vừa điều khiển xe Honda Wave dùng chân đẩy xe Tuyên đến chỗ T. Nhâm và T1 để lại chiếc xe biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 cho T trông rồi cả hai tiếp tục quay lại đầu ngõ, T1 ngồi lên xe Honda Wave màu trắng bạc, biển kiểm soát 29Y7 – 644.57, N vừa điều khiển xe Honda Wave vừa dùng chân đẩy xe cho T1 đến trước số A N rồi để lại chiếc xe biển kiểm soát 29Y7 – 644.57. Nhâm chở T1 quay lại cầu đi bộ đón T đẩy chiếc xe biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 ra trước số 12 Nguyễn Xiển . T, N, T1 lần lượt đẩy 02 chiếc xe trộm cắp được về phòng trọ địa chỉ số I ngõ A B, K, T, Hà Nội cất giấu. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, qua mạng Internet, T gọi thợ đánh khóa của 02 chiếc xe Honda Wave trộm cắp được và tháo biển số vứt xuống khu vực sông T.

Anh Nguyễn Mạnh Q, anh Nguyễn Phú Đ bị mất xe đã đến Cơ quan Công an để trình báo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận T kết luận (BL 308,309):

  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc, biển soát 29Y7- 644.57, số khung RLHJA392XNY432529, số máy JA39E-2856772 (đã qua sử dụng) trị giá 17.000.000đồng.
  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 số khung RLHJA3928NY728732, số máy JA39E2922450 (đã qua sử dụng) trị giá 18.000.000đồng.

Quá trình điều tra mở rộng Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T6 khai nhận sử dụng chiếc xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 29Y7-645.41 và chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng bạc, đã tháo biển kiểm soát 29Y7-644.57 làm phương tiện đi trộm cắp tài sản vào rạng sáng ngày 25/4/2023 như sau:

3

Vụ thứ hai: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/4/2023, T1, T, N, T6 rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Nhâm điều khiển xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 chở T6; T1 điều khiển xe máy Honda Wave, màu trắng bạc chở T đi đến trước số C ngõ E N, Thanh Xuân N, T, Hà Nội phát hiện trước cửa nhà có 01 xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 30Z4 – 1273 không có ai trông giữ. T và N đứng cạnh ngõ E N trông xe và cảnh giới, T6 và T1 xuống xe đi bộ tiếp cận chiếc xe, T6 giữ yên xe, T1 dùng 02 tay lắc mạnh để phá khóa. Sau đó T6 ngồi lên xe, N điều khiển xe biển kiểm soát 29Y7 - 645.41 dùng chân đẩy xe cho T6, T và T1 đi xe phía sau mang xe về nhà trọ của bà Nguyễn Thị S (mẹ T) ở H T, T, T, Hà Nội cất giấu.

Anh Nguyễn Đức T5 bị mất xe đã đến Cơ quan công an trình báo

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận T kết luận:

  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát: 30Z4 – 1273, số khung RLHHC12189Y069345, số máy HC12E – 1270222 trị giá 7.000.000đồng (BL 308,309).

Vụ thứ ba: Khoảng 5h ngày 25/4/2023, N điều khiển xe Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 chở T6; T1 điều khiển xe Honda Wave, màu trắng bạc (đã tháo biển kiểm soát 29Y7 – 644.57) chở T tìm xe máy sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến trước số D T, phường M, quận H, Hà Nội phát hiện trước cửa có dựng 01 chiếc xe máy Honda Airblade, màu đen bạc, biển kiểm soát 24B1 – 007.68 không khóa cổ khóa càng, không người trông giữ. Thực hiện hành vi trộm cắp, T6 dắt xe Honda Airblade xuống lòng đường rồi ngồi lên xe, N điều khiển xe biển kiểm soát 29Y7 – 645.41 dùng chân đẩy chiếc xe trộm cắp được về nhà trọ tại H T, T, T, Hà Nội; T và T1 đi xe phía sau cảnh giới. Sau đó, T ngủ lại nhà trọ còn T6, N, T1 đi về phòng trọ số I ngõ A B. Ngày 25/4/2023, T lên mạng gọi thợ đánh chìa khóa xe máy Honda Airblade rồi tháo chiếc biển kiểm soát vứt ở khu vực đường K và lắp biển kiểm soát 88L1 – 483.57 vào chiếc xe Honda Airblade.

Chị Lê Hoài A bị mất xe đã đến cơ quan công an để trình báo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen bạc, số khung RLHJF1804AY572995, số máy JF27E - 0596837 (đã qua sử dụng) trị giá 15.000.000 đồng.

Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T khai nhận hai người trộm cắp vụ thứ tư như sau:

Ngày 19/4/2023, T mượn chiếc xe máy Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) của một người chị tên là L (không rõ thông tin, lý lịch) để sử dụng. Khoảng 3 giờ ngày 20/4/2023, T chở T1 đi trộm cắp tài sản khi đầu ngõ D đường K, H, T, Hà Nội, T dựng xe cùng T1 đi bộ đến số nhà A ngõ D K phát hiện bên trong có 03 xe máy Honda Wave không khóa cổ, khóa càng. T dắt 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 17B7 – 456.78, màu xanh đen bạc còn T1 dắt 01 xe Honda Wave, biển kiểm soát 17B7 – 470.50 ra đầu ngõ. Sau đó, T vừa điều khiển xe Honda Wave vừa dùng chân đẩy lần lượt 02 xe máy trộm cắp được do T1 điều khiển về nhà trọ tại số I ngõ A B. Khoảng 30 phút sau, T và T1 quay lại tiếp tục dắt 01 máy Honda Wave

4

biển kiểm soát 17B7 – 471.31 ra đầu ngõ D K rồi đẩy chiếc xe về nhà trọ. Sáng 20/4/2023, T lên mạng gọi thợ (không biết thông tin, địa chỉ) đánh chìa khóa 03 chiếc xe trộm cắp được. T tháo 03 biển kiểm soát vứt bỏ. Sáng ngày 21/4/2023 T bán 01 xe máy Honda Wave, đã tháo biển kiểm soát 17B7 – 470.50 cho 01 người đàn ông không quen biết tại số C N, Đ, H, Hà Nội với giá 1.600.000đồng. T chia cho T1 800.000đồng đều khai đã tiêu sài hết.

Anh Trịnh Minh T4; anh Trần Văn H2 và anh Vũ Công H1 bị mất tài sản đã đến cơ quan công an để trình báo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận T kết luận:

  • 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 17B7 - 456.78, màu xanh đen bạc (đã qua sử dụng) trị giá 30.000.000 đồng.
  • 01 máy Honda Wave biển kiểm soát 17B7 - 471.31, màu đen bạc (đã qua sử dụng) trị giá 15.000.000 đồng.
  • 01 máy Honda Wave biển kiểm soát 17B7 - 470.50 màu đen (đã qua sử dụng) trị giá 15.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm o, g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm o, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Văn T từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Văn N từ 18 tháng - 22 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
  • Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XR số IMEI 357356094121915, số IMEI 357356094059487 lắp sim số 0397524032 thu giữ của Nguyễn Văn T1.
  • Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 7plus màu vàng 128GB số IMEI: 353807082502049 lắp sim số 0967197422 và 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, số IMEI 355202206475012 thu giữ của Nguyễn Văn T.
  • Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, và 587 của Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo T, T1 liên đới bồi thường giá trị xe máy cho anh Trần Văn H2 30.000.000 đồng (mỗi bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng).
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ

5

vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, lời khai nhận tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Từ ngày 20/4/2023 đến ngày 25/4/2023 Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T cùng Nguyễn Văn N trộm cắp 07 chiếc xe máy; trong đó T1, T trộm cắp 03 xe máy tổng giá trị 117.000.000 đồng; T1 và T cùng Nguyễn Văn N trộm cắp 04 xe máy tổng trị giá 57.000.000 đồng. Cụ thể:

  • Khoảng hơn 01 giờ ngày 24/4/2023, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29Y7 - 645.41 trị giá 18.000.000 đồng của anh Nguyễn Phú Đ, 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng bạc, biển kiểm soát 29Y7 - 644.57 trị giá 17.000.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh Q tại trước nhà số E ngõ E T, phường T, T, Hà Nội.
  • Khoảng hơn 4 giờ 30 phút ngày 25/4/2023, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T - trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 30Z4 - 1273 trị giá 7.000.000 đồng của anh Nguyễn Đức T5 tại trước nhà số C ngõ E N, phường T, T, Hà Nội.
  • Khoảng 5 giờ ngày 25/4/2023, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Airblade màu đen bạc, biển kiểm soát 24B - 007.68 trị giá 15.000.000 đồng của chị Lê Hoài A tại trước số D T, phường M, quận H, Hà Nội.
  • Ngày 20/4/2023 Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T trộm cắp 01 xe máy Honda wave màu đen bạc, biển kiểm soát 17B7-471.31 trị giá 15.000.000 đồng của anh Trịnh Minh T4; 01 xe máy Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 17B7- 456.78 trị giá 30.000.000 đồng của anh Trần Văn H2; 01 chiếc xe máy Honda wave màu đen, BKS 17B7-470.50 trị giá 15.000.000 đồng của anh Vũ Công H1 tại số A, ngõ D K, H, T, Hà Nội.

Cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

6

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo T, T1, N đều là người thực hành, trong khoảng thời gian ngắn liên tục cùng nhau thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản chiếm đoạt 07 xe máy mang đi tiêu thụ. Về nhân thân và tiền án, tiền sự: bị cáo T1 có 01 tiền án (chưa xóa án tích): Ngày 25/11/2021 Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa - Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 05/7/2022); phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS; bị cáo T có nhân thân xấu: 01 tiền sự (đã hết thời hiệu): Ngày 14/7/2020, C1, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với hình thức cảnh cáo. Bị cáo N có 01 tiền sự (chưa hết thời hiệu): Ngày 11/5/2023, Công an Thành phố V, Phú Thọ xử lý hành chính về hành vi không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác, mức phạt 1.250.000 đồng. Khi phạm tội bị cáo N chưa đủ 18 tuổi, cần có hình phạt phù hợp theo quy định đảm bảo việc giáo dục cải tạo bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

[3]Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nay được hưởng tình tiết theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: bị cáo T1 có 01 tiền án chưa xóa án tích, phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo T1 và T xúi giục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại o khoản 1 Điều 52 của BLHS; các bị cáo T1, T và N đều phạm tội hai lần trở lên, do đó đều phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại g khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[4] Về những vấn đề khác:

Nguyễn Ngọc T6 thực hiện hành vi trộm cắp 02 xe máy với tổng trị giá là 22.000.000 đồng khi chưa đủ 16 tuổi. Do vậy, Công an quận T xử phạt hành chính với hình thức Cảnh cáo đối với T6.

Đối với bà Nguyễn Thị S (mẹ của T) khai không biết T1, T, Nguyễn Văn N, T6 trộm cắp tài sản và cất giấu tại nhà trọ của mình nên không có căn cứ để xử lý.

Người đàn ông mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 17B7 - 456.78 do T không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.

Đối với 01 xe máy Honda Wave, màu đen, đã tháo biển kiểm soát 17B7 – 470.50 nay Cơ quan điều tra Công an quận H đã thu giữ xe để xác minh trong quá trình điều tra vụ án hình sự khác (Vụ Phạm Quang L1 cư trú số B ngõ A L, phường T, T). Cơ quan Công an quận T và Công an quận H thống nhất xử lý vật chứng theo quy định; nay không đề cập trong vụ án này.

Đối với xe Honda Wave, màu trắng bạc, biển kiểm soát 29Y7-644.57 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh Q. Chiếc xe Honda Wave, màu trắng bạc, do T đã vứt biển kiểm soát 29Y7-644.57 xuống khu vực sông T (không thu hồi được). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T đã trao trả 02 xe trên cho anh Nguyễn Phú Đ, anh Q nay không có yêu cầu gì khác.

Đối với chiếc xe Honda Wave, biển kiểm soát 30Z4 – 1273 nay xác định chủ sở hữu là anh Hoàng D1 (N, D, Đ, Hà Nội) nhưng anh D1 đã bán xe trên cho 01 người không quen biết. Anh Nguyễn Đức T5 khai mua chiếc xe trên tại cửa hàng mua bán xe máy cũ ở Chùa H, Cầu G, Hà Nội có xuất trình được đăng ký xe bản

7

gốc. Công an quận T đã trao trả chiếc xe trên cho anh T5 nay không có yêu cầu gì khác.

Đối với xe máy Honda Airblade màu đen bạc, biển kiểm soát 24B1 - 007.68 chủ đăng ký xe là Hoàng Thị Thu H3 (mẹ của Lê Hoài A) cho chị A mượn sử dụng. Công an quận T đã trao trả chiếc xe trên cho chị A nay không có yêu cầu gì khác.

Đối với chiếc biển kiểm soát 88L1- 483.57 là Biển số đã được cấp cho xe Honda Wave màu trắng của anh Nguyễn Văn T1 (Khu tập thể E, V, H, Hà Nội). Anh T1 đã được Công an quận T đã trao trả, nay không có yêu cầu gì khác.

Đối với người phụ nữ tên L do Nguyễn Văn T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, L không biết T mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ và xử lý.

Đối với người thợ đánh chìa khóa cho T do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone XR số IMEI 357356094121915, số IMEI 357356094059487 lắp sim số 0397524032 thu giữ của Nguyễn Văn T1 và 01 điện thoại Iphone 7plus màu vàng 128GB số IMEI: 353807082502049 lắp sim số 0967197422 và 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, số IMEI 355202206475012 lắp sim số 0397524032 thu giữ của Nguyễn Văn T.

01 điện thoại di động Iphone XR số IMEI 357356094121915, số IMEI 357356094059487 lắp sim 0397524032 và 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng 128GB số IMEI: 353807082502049 lắp sim 0967197422 thu giữ của Nguyễn Văn T1 và 01 điện thoại di động Nokia 1280, màu đen, số IMEI 355202206475012 thu giữ của Nguyễn Văn T, do các bị cáo có sử dụng liên lạc khi đi trộm cắp tài sản, nay cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Những người bị hại là anh Nguyễn Phú Đ, anh Nguyễn Mạnh Q, chị Lê Hoài A, anh Nguyễn Đức T5, anh Trịnh Minh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 17B7 - 456.78 T, T1 trộm cắp rồi sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ngày 24/4/2023 nhưng T đã bán chiếc xe cho một người không quen biết nay không thu hồi được. Anh Trần Văn H2 yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000đồng; nay cần buộc 2 bị cáo T, T1 liên đới bồi thường cho chủ xe là phù hợp.

Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo T1 và T phải chịu án phí dân sự tính trên số tiền phải bồi thường cho người bị hại.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

8

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm o, g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 4 năm 6 tháng tù (bốn năm sáu tháng tù); thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm o, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 4 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XR số IMEI 357356094121915, số IMEI 357356094059487 thu giữ của Nguyễn Văn T1.

    Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 7plus màu vàng 128GB số IMEI: 353807082502049 và 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, số IMEI 355202206475012 thu giữ của Nguyễn Văn T.

    Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim số 0397524032 và số 0967197422 lắp trong điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Văn T1Nguyễn Văn T.

    (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân ngày 09/8/2023)

  3. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, và 587 của Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1 liên đới bồi thường giá trị xe máy cho anh Trần Văn H2 30.000.000 đồng (trong đó T phải bồi thường 15.000.000 đồng; T1 phải bồi thường 15.000.000 đồng).

    Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật nếu các bị cáo T1, T không bồi thường còn phải chịu lãi suất phát sinh trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS.

  4. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N mỗi người phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T mỗi người phải nộp 750.000 đồng án phí dân sự.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

9

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo; người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Thu Hà

10

11

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 149/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger