|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/HSPT
Ngày 27-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trương Thị Anh |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thu Hương |
| Bà Hoàng Thị Nguyệt |
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2024/HSPT ngày 05/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình T có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
* Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Đình T1(tên gọi khác không), sinh năm 2000; Giới tính: Nam ; CCCD số [...].
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh HóaNghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình K năm 1968 và bà Phạm Thị L năm 1970; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 22/9/2022 bị Công an xã T vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Ngày 20/12/2022 bị cáo đã nộp xong tiền phạt); Nhân thân: Ngày 30/9/2021 bị Chủ tịch UBND xã T Táp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 25/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TCó mặt.
Các bị cáo khác trong vụ án không kháng cáo; không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ ngày 17/10/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Thợp với Công an xã Đ vụ đã phát hiện tại gầm Cầu vượt cao tốc thuộc thôn K, xã Đ năm 1981 ở thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóacó hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã thu giữ trên tay D01 (một) mảnh giấy bạc có bám dính chất sỉ màu đen, đồng thời tiến hành niêm phong để xử lý theo quy định.
Sau khi bị bắt giữ, Lê Huy D khoảng 21 giờ ngày 17/10/2023, D1 lạc với Nguyễn Đình T2 điện thoại 0942.623.xxx để hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý hồng phiến. Tsố điện thoại là 0876.894.xxx của Phạm Văn B ở phòng 103 của nhà nghỉ K2, xã Đ, huyện Đ Dliên lạc với BSau đó Dđiện thoại cho BBDnhà nghỉ K2bán 08 viên ma tuý cho D
Căn cứ lời khai của Lê Huy DPhòng PC04 - Công an tỉnh T với Công an xã Đ khám xét khẩn cấp tại phòng 103, nhà nghỉ K2thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ có Phạm Văn BBùi T năm 1995, ở thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóatrong phòng. Khi thấy lực lượng Công an, Phạm Văn B1 lấy ở cạnh bậc lên xuống cửa sau ra vườn của nhà nghỉ giao nộp cho cơ quan Công an gồm: 01 (một) túi nilong màu xanh, kích thước khoảng (8x10)cm, bên trong có: 01 (một) túi ni long màu trắng bên trong có 04 (bốn) túi nilong màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa 04(bốn) viên nén màu hồng hình trụ tròn; 01(một) túi nilong màu trắng, bên trong có 05 túi nilong màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa 05 viên nén hình trụ tròn màu hồng; 01 (một) túi ni long màu hồng, kích thước khoảng (8x10)cm, một mặt có ký hiệu chữ “A” bên trong có 03 túi nilong màu trắng, trong mỗi túi đều chứa 08 viên nén hình trụ tròn màu hồng; 01(một) gói giấy màu trắng bên trong có 03(ba) túi nilong màu trắng, bên trong mỗi túi đều đựng 02 viên nén màu hồng và 04 túi nilong màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng.
Toàn bộ số nghi ma túy thu giữ của B2 quan Công an đã tiến hành niêm phong bỏ vào phong bì do Công an tỉnh Tphát hành, ký hiệu M1.
Trong khi đang tiến hành khám xét tại nhà nghỉ K3 lượng Công an phát hiện Nguyễn Đình TNguyễn Tiến Vsinh năm 2001 ở thôn K, xã Đ, huyện Đ nghi vấn đi xe máy vào nhà nghỉ nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây T3 nguyện lấy trong túi quần đang mặc 01 hộp giấy, bên trong có một gói giấy bạc đựng 10 viên nén màu hồng, hình trụ tròn (nghi ma túy) giao nộp cho cơ quan Công an. Tsố ma túy này do T4 của Nguyễn Minh H quan điều tra đã tiến hành thu giữ, đồng thời niêm phong, ký hiệu M2 để xử lý.
Trong các ngày 21/10/2023 và 04/11/2023, N Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T về hành vi phạm tội của mình.
Sau khi bị bắt giữ, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Vào trưa ngày 17/10/2023, Phạm Văn B3 cho Nguyễn Đình T5 nhau mua ma tuý hồng phiến về sử dụng và bán kiếm lời, T6 và nói để T7 hệ mua ma tuý.
Sau đó T8 với Nguyễn Đức Đ 100 viên ma tuý hồng phiến. Đý và nói T5.500.000đồng, khi nào có thì sẽ thông báo cho T9 khoản cho Đ
Đến khoảng 16 giờ 40 phútcùng ngày, Lê Huy DSN 1981 ở thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóacho Bhỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý hồng phiến. Bhỏi Tma tuý không bán cho khách 1.000.000 đồng, T10, B4 để nhắn tin số của khách cho Trồi B5 nhắn tin số điện thoại của DTDo tài khoản ngân hàng của Tbáo tài khoản đã quá hạn mức, nên T11 cho Bchuyển tiền vào tài khoản của BBắc liên lạc với Bùi Thị P 1995ở thôn K, xã Đ, huyện Đ tài khoản nhận tiền. PBtài khoản ngân hàng V1PBtin lại cho TTlạc gọi cho D2 mà B6 tin, bảo D3 vào tài khoản ngân hàng và đến khu vực bệnh viện Đ9 đó T07 (bảy) viên ma tuý mà vào ngày 16/10/2023, BTviên (Tdụng hết ba viên còn lại bảy viên), bỏ vào tờ giấy bạc gói lại và thuê xe đến bệnh viện huyện ĐDKhi Dra đưa ma tuý cho DTnhắn tin cho B7.
Sau khi bán 07 viên ma túy cho DTở quán nước đợi ĐĐến khoảng 18 giờ 40 cùng ngày thì Đ1 đã có ma tuý và nói T12 vào tài khoản ngân hàng của Đ2 0961130625, Ngân hàng M2 vực đường vào trường THPT Đ10 khu phố N, thị trấn R, huyện Đ. Tsố tài khoản ngân hàng T29 chuyển vào tài khoản của Đ3. Thấy T13 tiền nên Đ4 75 viên ma tuý bỏ vào vỏ hộp keo 502, rồi đi xe máy biển kiểm soát 36D1-035.38 đến đường vào trường THPT Đ11 hộp keo chứa ma tuý dưới đường. Khi TĐxe máy biển kiểm soát 36D1-035.38 cho Tchỉ chỗ để ma tuý. Sau đó, Đ5 về nhà và sử dụng hết 25 viên ma tuý còn lại. Sau khi lấy ma tuý Tvề phòng 103 nhà nghỉ K2đưa cho B8 giữ rồi đi ăn tối.
Tại phòng 103, Bsố ma tuý doThành đưa ra đếm được 75 viên, B9 02 viên để sử dụng. Số còn lại chia thành các túi 04 viên, 05 viên và 08 viên, rồi đem dấu ở ngoài chỗ cửa ra ngoài vườn trong nhà nghỉ cùng với số ma tuý MDMA và Ketamine của Btrước đó. Một lúc sau thì Tphòng 103 nhà nghỉ K4 tuý Tcủa Đ75 viên. TBngồi nói chuyện thì Nguyễn Tiến VSN 2001 ở thôn K, xã Đ, huyện Đ Trủ VT, Vđồng ý nên cả hai cùng đi.
Khi T14 bi a thì Lê Huy D4 thoại cho T4 1.000.000đ đồng ma tuý hồng phiến. T6 và nói D3 vào tài khoản ngân hàng của T0942623444, ngân hàng T30 nhà nghỉ K5 đó B10 cho T15 nào về và nói ma tuý của Đ6 không được ngon. Nghe B11, T Nguyễn Minh H1 hỏi mua ma tuý mang về trộn với ma tuý của Đ7, THviên ma tuý hồng phiến, H2 nói giá là 1.200.000 đồng và bảo T12 vào tài khoản ngân hàng 0816633456MBbank của H3 xuống cầu C, TP TTVCầu CHlấy 10 viên ma tuý hồng phiến để trong ngăn kéo tủ giường ở phòng của H4 hộp bao cao su và bắt xe taxi ra Cầu Đ, phường A, TP T tuý ở đường trước cây xăng M3 lấy.
Trong khi đợi HDtiền vào tài khoản của T16 đang đến nhà nghỉ K6 gọi vào số 0876894425 có người ra đưa. Sau đó T8 nói B12 đưa ma tuý cho DKhi đến nhà nghỉ K7 số điện thoại Tlà số của BBmột túi ni long chứa 08 viên ma tuý hồng phiến ra đưa cho D5 vào phòng. Lúc này có P1 chơi và nói chuyện với BDmua được ma tuý thì mang ra ngoài khu vực gầm cầu vượt cao tốc ở xã Đ, huyện Đ.
Khi vừa sử dụng hết số ma tuý vừa mua thì Dbị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất nghi ma túy đã thu giữ của Phạm Văn BLê H5 DNguyễn Đình T
Tại Kết luận giám định số 3877/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K3Công an tỉnh Tluận về vật chứng đã thu giữ của Phạm Văn B13: 65 viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 6,595g là ma túy, loại Methammetamine; 06 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,542g là ma túy, loại MDMA và chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 1,446g là ma túy, loại Ketamine.
Tại Kết luận giám định số 3870/ KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng Ky huật hình sự Công an tỉnh T: tìm thấy chất ma túy loại Methammetamine trong chất sỉ màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc thu giữ của Lê Huy D6
Tại Kết luân giám định số 3876/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K3Công an tỉnh Tluận số ma túy thu giữ của Nguyễn Đình T17 viên nén hình trụ tròn thu giữ của Nguyễn Đình Tlcó khối lượng 1,003g là ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- Tờ giấy bạc mà Lê Huy D7 sử dụng ma tuý, sau giám định được đựng trong phong bì do Phòng K3Công an tỉnh Thành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê M T2Lại Thị Thanh L1Hoàng Thị Ncác hình dấu của Phòng K3Công an tỉnh T
- 65 viên ma tuý màu hồng có tổng khối lượng 6,595g, loại Methamphemine, sau giám định còn 60 viên có tổng khối lượng 6,082g; 06 viên ma tuý màu hồng có tổng khối lượng 2,542g, loại MDMA, sau giám định còn 05 viên có tổng khối lượng 2,110g; 04 túi ni lông chứa ma tuý có tổng khối lượng 1,446g loại Ketamine, sau giám định còn 1,326g. Các chất ma tuý này được đựng trong phong bì do Phòng K3Công an tỉnh Thành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê M T2Lại Thị Thanh L1Hoàng Thị Ncác hình dấu của Phòng K3Công an tỉnh T31
- 10 viên ma tuý thu giữ của Thành có tổng khối lượng 1,033g loại Methamphetamine, sau giám định còn 09 viên có khối lượng 0,899g, được đựng trong phong bì do Phòng K3Công an tỉnh Thành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê M T2Lại Thị Thanh L1Hoàng Thị Ncác hình dấu của Phòng K3Công an tỉnh T
- 01 điện thoại Samsung Galaxy note 9 màu xanh đã qua sử dung, 01 điện thoại Mastel đã qua sử dụng thu giữ của B01 điện thoại Iphone 12 Pro, 01 điện thoại iphone 6 plus, thu giữ của H01 điện thoại Iphone 14 promax, 01 điện thoại iphone 8 thu giữ của Đ
- Đối với số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) Lê Huy D tài khoản của Bùi Thị P2 khi làm việc tại cơ quan Công an biết đây là tiền mua bán ma tuý, P3 nộp lại cho cơ quan Công an, hiện số tiền này đang gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Tchờ xử lý theo quy định. Số tiền 1.000.000đồng, Lê Huy D tài khoản của T1ngân hàng Tócơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành phong toả, chờ xử lý theo quy định.
- Đối với số tiền 4.800.000₫ do T1khoản, Đsử dụng hết, trong tài khoản của Đcòn tiền. Số tiền T1khoản cho H6 ma tuý, H7 sử dụng hết, trong tài khoản của H8 không còn tiền.
- Đối với xe máy Dream biển kiểm soát 36D1-035.38, quá trình điều tra xác định là tài sản của Đỗ V K1SN 1991 ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóacho Tlanh Klbiết việc T1dụng để mua bán ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quyết định xử lý, trả lại cho Đỗ Viết K1
Về nguồn gốc số ma túy: Đcho T1Đnhận mua của đối tượng tên là N1H1vào ngày 17/10/2023 tại cầu T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh HóaMa tuý Hcho T1Hmua của một đối tượng tên T3tại đường Đ cổng Chùa B18, phường Q, Tp T 15/10/2023; ma tuý MDMA, ma tuý Ketamine Bắc cất giữ, B của một đối tượng Bbiết tên, địa chỉ tại khu vực trước trường Tiểu học Đ12, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hoángày 16/10/2023. Các đối tượng bán ma tuý này cho ĐHBCơ quan CSĐT Công an huyện Đáp dụng các biện pháp để tiến hành điều tra, nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn T18 VT1đi cùng để mua ma tuý của HVkhông biết việc này. Bản thân Tlnói cho VVì vậy không có căn cứ để xem xét hình thức xử lý đối với V
Đối với Lê Huy D8 hànhvi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Tuy nhiên số ma túy do D9 đã sử dụng hết nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Do vây Cơ quan điều tra chỉ xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuýtheo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là phù hợp.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b,p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B14
Căn cứ: Điểm b, i khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Đình T1
Căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Đức Đ8
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Minh H9
Tuyên bố: Bị cáo N1 “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Phạm Văn B15 (Mười một) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.
- - Bị cáo Nguyễn Đình T1(Mnăm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.
- - Bị cáo Nguyễn Đức Đ8(Chín) năm 06 (Stháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.
- -Bị cáo Nguyễn Minh H10 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 21/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.
* Sau khi xét xử, bị cáo Nguyễn Đình T19 đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vì có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, bản thân là lao động chính trong gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Đình Thành c nhành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T20 một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá; Giảm cho bị cáo Nguyễn Đình T21 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do nghiện hút ma tuý, muốn có tiền tiêu xài và lấy ma túy sử dụng nên Phạm Văn B16 Nguyễn Đình T22 nhau mua ma túy.
Nguyễn Đình T23 túy của Nguyễn Đức ĐNguyễn M1 H75 viên hồng phiến, loại Methamphetamine có khối lượng là 7,598gam nhằm mục đích để bán kiếm lời. Trong ngày 17/10/2023, Phạm Văn B17 Đình Tbán ma túy 02 lần cho Lê Huy D6
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đình T24 bọn về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội. Bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt.
Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo gồm: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Sau khi phạm tội Nguyễn Đình T25 có đơn xin đầu thú; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình T26 thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo được chính quyền nơi cư trú là xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóanhận trong năm 2023 bị cáo có tham gia đóng góp quỹ Khuyến học xã Tđể giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trong học tập. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người tốt, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.
[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T1
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
[2] Áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[3] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T27 “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1(T4năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/10/2023.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình T28 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi gửi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trương Thị A |
Bản án số 149/2024/HSPT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 149/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
