Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chức.

Bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đào Tùng D, sinh ngày 01/9/2004, tại thị trấn Í, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Anh S, đã chết và con bà Lò Thị T, sinh năm 1986; C sống như vợ chồng với Cà Thị Hải A, sinh năm 2006; có một con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Lường Văn B, sinh ngày 24/8/2005, tại T, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn K, sinh năm 1973 và con bà Quàng Thị D1, sinh năm 1974; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đinh Văn D2, sinh năm 2006, địa chỉ: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp của Đinh Văn D2: Ông Đinh Văn X, sinh năm 1977 và bà Lường Thị H, sinh năm 1985 là bố mẹ, địa chỉ: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Đều có đề nghị xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

Lường Hữu B1, địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đào Tùng D, Lường Văn B2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 13 giờ 05 phút ngày 17/4/2024, tại tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Đào Tùng D, sinh ngày 01/9/2004 ở bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Lường Văn B2, sinh ngày 24/8/2005, ở tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La và Lường Hữu B1, sinh ngày 25/10/2008 (15 tuổi 06 tháng 08 ngày), địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do Đào Tùng D tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp: 01 gói giấy trắng có chữ bên trong có chứa các cục bột màu trắng, khai là H1 và 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 viên nen màu hồng, hình tròn, trên mặt có chữ WY. Đào Tùng D khai số ma túy đi mua về cho Lường Hữu B1 để hưởng lợi 100.000, đồng;

Số tiền 80.000, đồng (01 tờ mệnh giá 50.000, đồng, 01 tờ mệnh giá 20.000. đồng và 01 tờ mệnh giá 10.000, đồng), thu giữ của Đào Tùng D khai là tiền được lợi từ việc mua bán ma túy mà có;

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu vàng hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường Hữu B1;

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu vàng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường V;

Ngày 17/4/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do Đào Tùng D tự giác giao nộp:

01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, hình tròn, trên mặt có chữ WY có khối lượng 0,10 gam lấy 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu DBB1;

01 gói giấy trắng có chữ bên trong có chứa các cục bột màu trắng có khối lượng 0,14 gam, lấy 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu DBB2.

Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 931/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:

Mẫu ký hiệu DBB1 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,05 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam Methamphetamine. Mẫu ký hiệu DBB2 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,06 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam Methamphetamine và 0,14 gam Heroine.

Kết luận giám định số tiền 80.000, đồng là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đào Tùng D, Lường Văn B2 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra Đào Tùng D, Lường Văn B2, Lường Hữu B1 khai nhận:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17/4/2024 Lường Hữu B1 nhắn tin điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Lường Văn B2 rủ đi mua ma túy về cùng sử dụng, do Lường Hữu B1 có 400.000, đồng, hai người nhất trí, do Lường Văn B2 quen biết Đào Tùng D nên đã nhắn tin cho Đào Tùng D đến phòng trọ của Lường Hữu B1. Lường Hữu B1 đưa cho Đào Tùng D 400.000, đồng. Sau đó Đào Tùng D đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, BKS 3164 mượn của Đinh Văn D2, sinh năm 2006, địa chỉ: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Đào Tùng D đi vào trong đường B, xã P, huyện M gặp và mua của một phụ nữ dân tộc thái tên M, không biết họ, địa chỉ với số tiền 300.000, đồng, được 01 gói Heroine và 01 viên hồng phiến mang về nhà đưa cho Lường Hữu B1. Lường Hữu B1 nhận 02 gói ma túy thì có tiềng gõ cửa liền cất lên nóc kệ. Khi mở cửa có Lường Văn B2 vào, Lường Hữu B1 lại lấy ma túy ra thì lại có tiếng gõ cửa. Đào Tùng D nhanh tay cầm số ma túy cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc. Công an phát hiện và bắt quả tang. Số tiền 100.000, đồng được lợi từ việc mua bán ma túy Đào Tùng D sử dụng mua nước uống hết 20.000, đồng. Còn 80.000, đồng bị bắt và thu giữ cung 02 gói ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy Đào Tùng D mua của một người phụ nữ tên M đường bản Pi, xã P, huyện M, không biết họ, địa chỉ với số tiền 300.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Đào Tùng D.

Đối với Lường Hữu B1, sinh ngày 25/10/2008 (15 tuổi 06 tháng 08 ngày), địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Được xác định chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, BKS 3164 Đào Tùng Dương mượn của Đinh Văn D2, sinh năm 2006, địa chỉ: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Anh Đinh Văn D2 không biết Đào Tùng D dùng xe đi mua ma túy, Cơ quan Công an không thu giữ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đào Tùng D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Lường Văn B2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 112/CT-VKS-ML ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Đào Tùng D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Truy tố bị cáo Lường Văn B2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đào Tùng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đào Tùng D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Tuyên bố các bị cáo Lường Văn B2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lường Văn B2 từ 18 đến 24 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng có chữ; 0,05 gam Methamphetamine; 0,08 gam Heroine (được niêm phong).

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 80.000, đồng do mua bán ma túy mà có của Đào Tùng D.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 02 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu vàng hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường Hữu B1;

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu vàng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường V.

Buộc Đào Tùng D truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 20.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đào Tùng D:

Đào Tùng D thừa nhận: Ngày 17/4/2024, tại phòng trọ của Lường Hữu B1 ở tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Đào Tùng D đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam và 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,10 gam. Đào Tùng D khai số ma túy đi mua về cho Lường Hữu B1, sinh ngày 25/10/2008 (15 tuổi 06 tháng 08 ngày), địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để hưởng lợi 100.000, đồng. Số tiền 20.000, đồng Đào Tùng D đã chi tiêu hết, còn 80.000, đồng bị thu giữ.

Xét hành vi mua bán ma túy của Đào Tùng D đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy, Đào Tùng D nhận tiền của Lường Hữu B1 là 400.000, đồng và khi giao ma túy chỉ giao cho Lường Hữu B1. Do đó có căn cứ xác định Đào Tùng D bán ma túy cho một người.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định; lời khai của người mua ma túy.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Đào Tùng D đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Bán ma túy cho người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo, khai ra hành vi phạm tội mua bán ma túy để hưởng lợi 100.000, đồng được xác định là lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn B2:

Bị cáo Lường Văn B2 thừa nhận: Ngày 17/4/2024 đã có hành vi tìm người mua ma túy cùng với Lường Hữu B1 cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam và 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,10 gam để sử dụng, thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo Lường Văn B2 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do Lường Văn Bằng cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau: Số Methamphetamine có khối lượng 0,10 gam + số Heroine có khối lượng 0,14 gam = 0,24 gam ma túy, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn B2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Lường Văn B2 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Lường Văn B2 có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.

[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng có dòng chữ; 0,05 gam Methamphetamine; 0,08 gam Heroine (được niêm phong).

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 80.000, đồng do mua bán ma túy mà có của Đào Tùng D.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 02 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu vàng hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường Hữu B1;

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu vàng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường V.

Buộc Đào Tùng D truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 20.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.

[5]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy Đào Tùng D mua của một người phụ nữ tên M đường bản Pi, xã P, huyện M, không biết họ, địa chỉ với số tiền 300.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Đào Tùng D. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Đối với Lường Hữu B1, sinh ngày 25/10/2008 (15 tuổi 06 tháng 08 ngày), địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Được xác định chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường là thỏa đáng.

Đối với anh Đinh Văn D2, sinh năm 2006, địa chỉ: Bản N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, BKS 3164. Đào Tùng Dương mượn của Đinh Văn D2. Anh Đinh Văn D2 không biết Đào Tùng D dùng xe đi mua ma túy, Cơ quan Công an không thu giữ là có căn cứ. Đồng thời được làm rõ tại phiên tòa, xác định hiện anh Đinh Văn D2 không còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm e “Bán ma túy cho người dưới 16 tuổi” khoản 2 Điều 251; điểm t, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Tuyên bố bị cáo Đào Tùng D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Đào Tùng D 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/4/2024.

    Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Tuyên bố bị cáo Lường Văn B2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Lường Văn B2 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/4/2024.

    Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng có dòng chữ; 0,05 (không phẩy không năm) gam Methamphetamine; 0,08 (không phẩy không tám) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 17/4/2024).
    • Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 80.000, đồng (tám mươi nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có của Đào Tùng D (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 09/8/2024).
    • Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 02 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:
      • 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu vàng hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường Hữu B1;
      • 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu vàng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lường V.

      (đều được niêm phong theo biên bản mở niêm phong, kiểm tra điện thoại và niêm phong lại ngày 17/4/2024).

      Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

    Buộc Đào Tùng D truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 20.000, đồng (hai mươi nghìn đồng) mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Đào Tùng D, Lường Văn B2 phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mường La;
  • - Các bị cáo (2);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)




Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 149, ngày 26/9/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger