|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 149/2024/HS-ST Ngày 26-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/HSST-QĐ ngày 27/6/2024 đối với bị cáo:
Ngô Thị H, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1; có chồng Ngô Văn T và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 26/8/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/8/2023, Ngô Thị H đến Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố H để tự thú về hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) thu lợi bất chính và giao nộp một số hóa đơn GTGT của công ty TNHH T17, công ty TNHH X, TNHH thương mại giao nhận vận tải H15; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu ghi xám đã qua sử dụng; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhiều công ty cùng 11 bộ con dấu, 04 chữ ký số (Tucker) cùng một số tài liệu của các công ty H đã thực hiện việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT.
Quá trình điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của Ngô Thị H như sau:
Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 8 năm 2023, Ngô Thị H đã mua lại của Nguyễn Văn B, sinh năm 1965, HKTT: thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng và Lê Văn Q, sinh năm 1965, HKTT: thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng tổng số 22 công ty có đăng ký trụ sở ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình với giá là 120.000.000 đồng/1 công ty, gồm:
- Công ty TNHH S (gọi tắt là công ty S), mã số doanh nghiệp (viết tắt là MSDN) 2400911635, địa chỉ trụ sở: phố B, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Những người đứng tên giám đốc công ty là Phạm Văn T1 (tên gọi khác là T2), sinh năm 1985, HKTT: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971, HKTT: số A, hẻm E H, phường V, quận B, Hà Nội.
- Công ty TNHH K1 (gọi tắt là công ty K1), MSDN 2400912438, địa chỉ trụ sở: đường H, thôn T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Hoàng Thị L, sinh năm 1994, HKTT: thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
- Công ty TNHH T18, MSDN 2400942986, địa chỉ trụ sở: phố B, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Lê Huy H3, sinh năm 1981, HKTT: thôn E, xã Q, TP M, tỉnh Quảng Ninh.
- Công ty TNHH MTV X1 (gọi tắt là công ty X1), MSDN 1001231932, địa chỉ trụ sở: số A, tổ A, phố L, phường K, TP T. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Duy T3, sinh năm 1987, HKTT: thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Công ty TNHH V3 (gọi tắt là công ty V3), MSDN 2400948272, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Những người đứng tên giám đốc là Mai Đức T4, sinh năm 1992, HKTT: xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định và Khuất Minh H4, sinh năm 1976, HKTT: thôn P, xã L, huyện P, Hà Nội.
- Công ty TNHH T19 (công ty T19), MSDN 2400950352, địa chỉ trụ sở: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc là Nguyễn Văn V, sinh năm 1994, HKTT: thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH T20, MSDN 2400930557, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc là Trịnh Thị D, sinh năm 1980, HKTT: thôn E, xã B, huyện B, Hà Nội.
- Công ty TNHH MTV T17 (gọi tắt là công ty T17), MSDN 2400916030, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc là Vũ Văn T5, sinh năm 1983, HKTT: thôn V, xã T, TP B, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH V4 (gọi tắt là công ty V4), MSDN 2400943877, địa chỉ trụ sở: phố B, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Vũ Thị Ngọc Á, sinh năm 2001, HKTT: thôn C, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- Công ty TNHH MTV T17 (gọi tắt là công ty T17), MSDN 2400917806, địa chỉ trụ sở: thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Duy H5, sinh năm 1994, HKTT: thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH T21 (gọi tắt là công ty T21), MSDN 2400943669, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Phan Thị D1, sinh năm 1983, HKTT: thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Công ty TNHH T17 (gọi tắt là công ty T17), MSDN 2400959690, địa chỉ trụ sở: thôn R, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Duy T6, sinh năm 1993, HKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, TP Cần Thơ.
- Công ty TNHH T17 Nguyễn Mạnh T7 (gọi tắt là công ty N7), MSDN 2400961724, địa chỉ trụ sở: thôn Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Mạnh T7, sinh năm 1989, HKTT: thôn B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Công ty TNHH T22 (gọi tắt là công ty T22), MSDN 2400975414, địa chỉ trụ sở: thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Ngụy Đình V1, sinh năm 1972, HKTT: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH T23 (gọi tắt là công Đ3), MSDN 2400963802, địa chỉ trụ sở: thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Văn N, sinh năm 1995, HKTT: thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH X2 (gọi tắt là công ty X2), MSDN 2400964700, địa chỉ trụ sở: thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Bàng Thị N1, sinh năm 1980, HKTT: thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH T17 (gọi tắt là công ty T17), MSDN 2400965447, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Đàm Văn Ơ, sinh năm 1997, HKTT: thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH X3 (gọi tắt là công ty X3), MSDN 2400965359, địa chỉ trụ sở: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Tơ Văn T8, sinh năm 1981, HKTT: thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH P1 (gọi tắt là công ty P1), MSDN 2400965422, địa chỉ trụ sở: thôn X, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Tơ Văn H6, sinh năm 1995, HKTT: thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH T17 (gọi tắt là công ty Q1), MSDN 2400890375, địa chỉ trụ sở: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Lê Quang D2, sinh năm 1996, HKTT: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.
- Công ty TNHH MTV T24 (gọi tắt là công ty T24), MSDN 5701903577, địa chỉ trụ sở: khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Những người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Văn A, sinh năm 1988, HKTT: số H, khu X, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và Bùi Văn H7, HKTT: khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
- Công ty TNHH X4 (công ty X4, MSDN 2400962894, địa chỉ trụ sở: thôn P, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Thanh T9, sinh năm 1977, HKTT: VP4 C, phường A, quận A, TP Hồ Chí Minh.
Mặc dù tại 22 công ty trên không có hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thực tế nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 12/2019 đến tháng 8/2023, Ngô Thị H đã xuất bán trái phép 5.374 hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 4.498.559.571.011 đồng, cụ thể: 67 số hóa đơn của công ty T24 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 41.151.937.015 đồng; 978 số hóa đơn của công ty Q1 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 491.843.162.397 đồng; 291 số hóa đơn của công ty S ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 80.623.754.850 đồng; 769 số hóa đơn của công ty T17 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 442.766.047.873 đồng; 750 số hóa đơn của công ty X1 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 335.776.540.850 đồng; 171 số hóa đơn của công ty K1 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 128.890.896.271 đồng; 120 số hóa đơn của công ty T18 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 175.005.619.998 đồng; 199 số hóa đơn của công ty T17 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 271.084.335.957 đồng; 213 số hóa đơn của công ty Vũ Ngọc Á ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 394.191.751.911 đồng; 04 số hóa đơn của công ty T21 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 28.925.949.393 đồng; 500 số hóa đơn của công ty T20 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 362.810.206.287 đồng; 233 số hóa đơn của công ty V3 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 253.780.095.153 đồng; 206 số hóa đơn của công ty T22 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 327.108.973.200 đồng; 173 số hóa đơn của công ty P1 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 161.343.902.487 đồng; 92 số hóa đơn của công ty T19 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 128.162.312.362 đồng; 183 số hóa đơn của công ty T17 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 250.116.188.068; 191 số hóa đơn của công ty Nguyễn Mạnh T7 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 228.341.268.100 đồng; 30 số hóa đơn của công ty X4 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 54.787.965.265 đồng; 68 số hóa đơn của công ty T23 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 100.101.977.835 đồng; 56 số hóa đơn của công ty X2 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 56.852.648.295 đồng; 11 số hóa đơn của công ty T17 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 23.316.085.570 đồng; 69 số hóa đơn của công ty X3 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 161.577.951.984 đồng.
Để hợp thức hóa cho việc kê khai đầu vào của 22 công ty trên, Ngô Thị H đã sử dụng hóa đơn GTGT của chính các công ty trên để quay vòng đồng thời mua trái phép hóa đơn của các đối tượng khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) để kê khai làm hóa đơn GTGT đầu vào. Ngô Thị H đã sử dụng 43 hóa đơn GTGT của công ty Vũ Ngọc Á để kê làm hóa đơn đầu vào cho 04 công ty (Nguyễn Mạnh T7, Q, D, Phương L1) ghi khống số tiền chưa thuế trên hóa đơn là 327.433.614.645 đồng, cụ thể: công ty Nguyễn Mạnh T7 là 17 số hóa đơn ghi khống 137.868.213.885 đồng; công ty T17 là 07 số hóa đơn ghi khống 45.800.000.000 đồng; công ty T22 là 16 số hóa đơn ghi khống 128.765.400.760 đồng; công ty V3 là 03 số hóa đơn ghi khống số tiền 20.000.000.000 đồng. Ngoài ra, từ tháng 12/2019 đến tháng 8/2023, Ngô Thị H đã mua trái phép của một số đối tượng không xác định nhân thân, lai lịch 387 hóa đơn GTGT ghi khống tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế trên hóa đơn là 4.671.777.658.601 đồng, cụ thể: công ty T24 là 2 số hóa đơn ghi khống 41.401.600.000 đồng; công ty Q1 là 17 số hóa đơn ghi khống 496.790.000.000 đồng; công ty S là 4 số hóa đơn ghi khống 81.400.000.000 đồng; công ty T17 là 19 số hóa đơn ghi khống 447.232.000.000 đồng; công ty X1 là 19 số hóa đơn ghi khống 341.192.525.000 đồng; công ty K1 là 08 số hóa đơn ghi khống 128.890.896.271 đồng; công ty T18 là 12 số hóa đơn ghi khống 201.273.000.000 đồng; công ty T17 là 14 số hóa đơn ghi khống 289.211.000.000 đồng111; công ty Vũ Ngọc Á là 27 số hóa đơn ghi khống 111.732.119.249 đồng; công ty T21 là 02 số hóa đơn ghi khống 29.220.000.000 đồng; công ty T20 là 18 số hóa đơn ghi khống 366.706.817.143 đồng; công ty V3 là 25 số hóa đơn ghi khống 275.340.095.402 đồng; công ty T22 là 30 số hóa đơn 200.026.752.496 đồng; công ty P1 là 61 số hóa đơn ghi khống 162.265.394.638 đồng; công ty T19 là 14 số hóa đơn 162.265.394.638 đồng; công ty T17 là 35 số hóa đơn ghi khống 205.074.160.000 đồng; công ty Nguyễn Mạnh T7 là 11 số hóa đơn ghi khống 88.504.807.910 đồng; công ty X4 là 10 số hóa đơn ghi khống 50.806.109.565 đồng; công ty T23 là 15 số hóa đơn ghi khống 99.585.694.900 đồng; công ty X2 là 13 số hóa đơn 56.558.949.540 đồng; công ty T17 là 08 số hóa đơn ghi khống 23.193.371.170 đồng; công ty X3 là 23 số hóa đơn ghi khống 161.374.550.742 đồng hết tổng số tiền là 46.717.776.586 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Thị H khai nhận: sau khi mua lại 22 công ty trên, đối với công ty sử dụng hóa đơn điện tử: Hiền tự lập khống nội dung hóa đơn điện tử và sử dụng T10 (chữ ký số) rồi gửi vào trang web của cơ quan quản lý thuế để phát hành; đối với hóa đơn giấy, H viết khống nội dung vào hóa đơn có sẵn chữ ký giám đốc đóng dấu công ty, dấu chức danh giám đốc trên hóa đơn, hợp đồng, chứng từ ngân hàng. Hàng tháng, quý, H tự cân đối lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra sau đó sử dụng USB chữ ký số để kê khai báo cáo cơ quan thuế. Đối với việc giao dịch chuyển khoản hợp thức hóa việc bán trái phép hóa đơn bị can H tự thực hiện hoặc thông qua các đối tượng môi giới (không xác định được nhân thân, lai lịch). Quá trình hoạt động, H đã xuất bán trái phép hóa đơn GTGT ở 22 công ty trên với giá 1,15%/ 1 tỉ đồng tiền hàng hóa dịch vụ ghi khống trên hóa đơn thu được số tiền là 51.733.435.066 đồng. Để hợp thức hóa vào vào, H đã mua một số hóa đơn GTGT cho các công ty trên với giá 1,0%/ 1 tỉ đồng tiền hàng hóa dịch vụ ghi khống trên hóa đơn hết số tiền 46.717.776.586 đồng.
Ngoài ra, để phục vụ việc bán trái phép hóa đơn GTGT, Ngô Thị H đã phải chi tiền mua lại các công ty hết số tiền là 2.640.000.000 đồng; thuê trụ sở hết số tiền là 1.346.000.000 đồng; mua văn phòng phẩm và máy tính xách tay hết số tiền là 60.000.000 đồng; nộp thuế hết tổng số tiền là 57.621.894 đồng, gồm: Công ty T24 nộp thuế là 10.195.289 đồng; công ty Q1 nộp 3.068.300 đồng; công ty S nộp 2.037.384 đồng; công ty T17 nộp 10.587.740 đồng; công ty K1 nộp 5.273.000 đồng; công ty T18 nộp 5.520.181 đồng; công ty T17 nộp 2.630.000 đồng; công ty V4 nộp 5.650.000 đồng; công ty T20 nộp 5.060.000 đồng; công ty V3 nộp 4.000.000 đồng; công ty T19 nộp 3.600.000 đồng.
Như vậy, từ việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT tại 22 công ty trên, Ngô Thị H thu được số tiền là 51.733.435.066 đồng. Sau khi trừ chi phí mua hóa đơn GTGT đầu vào, chi phí cho việc thành lập và hoạt động của các công ty với tổng số tiền là 50.821.398.480 đồng, H thu lợi bất chính được số tiền là 921.036.586 đồng.
Những người đứng tên giám đốc công ty gồm: Vũ Văn T5 giám đốc công ty T17; Nguyễn Duy H5 giám đốc công ty T17; Phạm Văn T11 (tên khác là Phạm Văn T1) giám đốc công ty S; Tơ Văn T8 giám đốc công ty X3; Vũ Thị Ngọc Á giám đốc công ty V4; Nguyễn Duy T3 giám đốc công ty X1; Ngụy Đình V1 giám đốc công ty T22; Nguyễn Mạnh T7 giám đốc công ty Nguyễn Mạnh T7; Bàng Thị N1 giám đốc công ty X2 đều khai không biết mình đứng tên giám đốc công ty, không đi thành lập và không biết gì về hoạt động của công ty. Nguyễn Văn A giám đốc công ty T24 khai mở công ty để kinh doanh thiết bị ngành giáo dục nhưng do trục trặc không xin được giấy phép kinh doanh lĩnh vực đặc thù sau đó có một người nữ giới không rõ nhân thân, lai lịch liên hệ mua công ty T24 và Nguyễn Văn A đã bán lại con dấu, giấy phép kinh doanh với giá là 3.000.000 đồng. Nguyễn Văn A chưa đi khai thuế cho công ty trên và không biết, không ký hay xuất hóa đơn, chứng từ gì của công ty T24; Nguyễn Văn V giám đốc công ty T19; Nguyễn Văn H2 giám đốc công ty S; Phan Thị D1 giám đốc công ty T21; Trịnh Thị D giám đốc công ty T20; Khuất Minh H4 giám đốc Phương L1; Lê Huy H3 giám đốc công ty T18; Mai Đức T4 giám đốc công ty V3; Tơ Văn H6 giám đốc công ty P1; Đàm Văn Ơ giám đốc công ty T17; Nguyễn Văn N giám đốc công ty T23: tại thời điểm cơ quan điều tra xác minh đã vắng mặt tại địa phương; Lê Quang D2 giám đốc công ty Q1 hiện đang lao động tại Hàn Quốc không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai; Hoàng Thị L giám đốc công ty K1; Bùi Văn H7 giám đốc công ty T24; Nguyễn Thanh T9 giám đốc công ty X4 khi cơ quan điều tra xác minh tại địa phương cho biết đã kiểm tra, rà soát xác định không có người có tên như trên đăng ký thường trú và sinh sống thực tế tại địa phương.
Những người đứng tên kế toán trưởng trong tài khoản các công ty, gồm: Bùi Văn H8, sinh năm 1992, HKTT: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là kế toán giao dịch chuyển khoản công ty T19; Trương Quý N2, sinh năm 1993, HKTT: thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình là kế toán giao dịch chuyển khoản công ty Q1; Ngô Văn H9, sinh năm 1989, HKTT: thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng là kế toán giao dịch chuyển khoản các công ty (H, Nguyễn Mạnh T7, Duy T6); Lưu Văn T12, sinh năm 1987, HKTT: xã A, huyện A, Hải Phòng là kế toán giao dịch chuyển khoản công ty X1; Lê Xuân N3, sinh năm 1975, HKTT: thôn K, xã B, huyện B, Hải Dương và Nguyễn Thị H10, sinh năm 1983, HKTT: thôn N, xã T, huyện L là kế toán giao dịch chuyển khoản cho công ty T17; Phạm Đức H11, sinh năm 1995, HKTT: khu T, phường V, TP B là kế toán giao dịch chuyển khoản cho công ty S; Mai Văn H12, sinh năm 1985, HKTT: thôn L, xã Đ, huyện A, Hải Phòng đứng tên kế toán trưởng công ty V4; Nguyễn Văn T13, sinh năm 1960, HKTT: thôn H, xã H, huyện A, Hải Phòng đứng tên kế toán trưởng công ty T22; Đinh Quang T14, sinh năm 1986, HKTT: thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng đứng tên kế toán trưởng công ty (Ngọc A1, P); Lưu Quang N4, sinh năm 1990, HKTT: đội 13, thôn N, xã T, huyện K, Hải Dương; Nguyễn Phi Đ, sinh năm 1992, HKTT: số 453/40/8/6 Lê Hồng P, tổ C, khu phố C, phường P, TP T, tỉnh Bình Dương đứng tên kế toán trưởng công ty T18 thì tại thời điểm cơ quan điều tra xác minh đã vắng mặt tại địa phương. Ong Thị L2, sinh năm 1993, HKTT: xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đứng tên kế toán trưởng công ty T24; Nguyễn Thị Thanh O, sinh năm 1975, HKTT: 6 N, phường B, quận T, TP Hồ Chí Minh khi cơ quan điều tra xác minh tại địa phương cho biết đã kiểm tra, rà soát xác định không có người có tên như trên đăng ký thường trú và sinh sống thực tế tại địa phương. Bùi Đình N5, sinh năm 1990, HKTT: thôn L, xã Đ, huyện A, Hải Phòng đứng tên kế toán trưởng công ty P1; Trần Thị Y, sinh năm 1988, HKTT: số I, đường E mới, TDP C, phường H, quận H, Hải Phòng đứng tên kế toán trưởng công ty S; Vũ Văn T5 đứng tên kế toán trưởng công ty X1; Vũ Thị Ngọc Á đứng tên kế toán trưởng công ty T21 và Bàng Thị N1 nêu trên đứng tên kế toán trưởng công ty T17 đều khai bản thân không biết đứng tên kế toán trưởng công ty. Bùi Đình N5, Trần Thị Y, Vũ Văn T5, Vũ Thị Ngọc Á, Bàng Thị N1 cũng không đi mở tài khoản tại ngân hàng và không thực hiện giao dịch chuyển khoản gì của công ty trên. Phan Văn C, sinh năm 1996, HKTT: thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đứng tên kế toán trưởng công ty X4 tại thời điểm xác minh được gia đình cho biết đã rời khỏi địa phương đến sinh sống ở TP Hồ Chí Minh song không cung cấp được địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai.
Cơ quan điều tra đã ghi lời khai đối với những người cho bị can H thuê nhà làm trụ sở, gồm: Lê Thị T15, sinh năm 1982, HKTT: xã Đ, huyện Y, Bắc Giang, chỗ ở: phố B, xã H, huyện V, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 3 công ty (H, V, Đình Thắng BG); Lương Thị Tố L3, sinh năm 1978, HKTT: số A D, phường D, TP B, chỗ ở: 7 N, phường T, TP B cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 2 công ty (Ngọc A1, Phan D1); Ngô Thị T16, sinh năm 1984, HKTT: thôn G, xã N, huyện V, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 2 công ty (D, Phương L1); Nguyễn Văn H13, sinh năm 1976, HKTT: thôn L, thị trấn L, huyện T, Bắc Ninh, chỗ ở: thôn T, xã Q, huyện V, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 2 công ty (Nguyễn Mạnh T7, T); Lưu Văn Đ1, sinh năm 1990, HKTT: thôn L, xã Đ, huyện T, Thái Bình cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở công ty X1; Vũ Văn H14, sinh năm 1985, HKTT: TDP Đ, phường H, thị xã V, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 3 công ty (Vũ Ngọc Á, T, Minh Ấ); Vũ Văn C1, sinh năm 1989, HKTT: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 2 công ty (T, P); Lê Thị Thanh C2, sinh năm 1978, HKTT: thôn N, phường H, thị xã V, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 3 công ty (H, B, T); Nông Thị L4, sinh năm 1979, HKTT: thôn N, xã T, huyện C, B, chỗ ở: xã T, huyện Y, Bắc Giang cho Ngô Thị H thuê nhà làm trụ sở 3 công ty (Q, Q, Đức K) đều khai ban đầu được Nguyễn Văn B và Lê Văn Q gặp gỡ và đặt vấn đề sau đó Ngô Thị H ký hợp đồng thuê nhà và trả tiền phí thuê nhà.
Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh được 247 công ty kê khai sử dụng hóa đơn GTGT của 22 công ty trên. Kết quả, lấy lời khai được đại diện 175 công ty trình bày đã mua hàng hóa, dịch vụ có thật, được xuất hóa đơn GTGT và các chứng từ kèm theo; 57 giám đốc công ty vắng mặt tại địa phương, tại nơi đăng ký trụ sở không có hoạt động sản xuất, kinh doanh gì; 11 công ty không kê khai sử dụng hóa đơn của các công ty do Ngô Thị H kê xuất bán ra; 01 công ty giám đốc khai bản thân không đi thành lập công ty, đã tạm nghỉ kinh doanh.
Cơ quan điều tra đã xác minh được 06 công ty H16 mua hóa đơn GTGT để kê khai làm hóa đơn đầu vào cho các công ty, trong đó: 04 người đứng tên giám đốc công ty khai bản thân không đi thành lập, không biết gì về hoạt động của công ty và cũng không ký bất cứ giấy tờ gì liên quan; 02 giám đốc vắng mặt tại địa phương.
Quá trình điều tra vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T25 cũng đang thụ lý điều tra vụ án hình sự “Mua bán trái phép hóa đơn xảy ra tại Công ty TNHH T26” có Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1975, HKTT: KDC A, phường A, thị xã K, Hải Dương hiện đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an T25 khởi tố bị can về hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT. Ngoài việc môi giới mua bán trái phép hóa đơn GTGT trong vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T25 đang thụ lý thì Nguyễn Văn Đ2 còn thông qua các đối tượng trung gian (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua trái phép 400 số hóa đơn GTGT của 05 công ty (D, Ngọc A1, P, T, Phan D1) của Ngô Thị H sau đó bán trái phép cho 3 công ty (M - MSDN 0800280282, khoáng sản L - MSDN 2802582589, Hồ N - MSDN 2803011404). Cơ quan ANĐT đã trao đổi với Cơ quan CSĐT - Công an T25 và thống nhất tách hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT của Nguyễn Văn Đ2 nêu trên, chuyển để Cơ quan CSĐT- Công an T25 để điều tra theo thẩm quyền (bút lục số 7685).
Vật chứng của vụ án:
- 13 dấu của các công ty S, MSDN 2400911635; T, MSDN 2400916030; Duy Thành TB, MSDN 1001231932; Duy Tân, MSDN 2400959690; Văn Việt, MSDN2400950352; Đình Thắng BG, MSDN 2400638802; Quang Vinh, MSDN 2400957414; Phương L1, MSDN 2400948272; Nguyễn Mạnh T7, MSDN 2400961724; Vũ Ngọc Á, MSDN 2400943877; Ngọc A1, MSDN 2400930557; Phan Dung, MSDN 2400943669; Thành Nam, MSDN 2400964700; 01 máy tính xách tay (Laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP, serial: CND6332L6L, Model: 15-ay071TU đã qua sử dụng;
- 11 dấu chức danh giám đốc của những người sau đây: Bàng Thị N1 – giám đốc công ty X2; Phan Thị D1- giám đốc công ty T21; Trịnh Thị D- giám đốc công ty T20; Vũ Thị Ngọc Á-giám đốc công ty V4; Nguyễn Mạnh T7-giám đốc công ty N7; Mai Đức T4- giám đốc công ty V3; Ngụy Đình V1- giám đốc công ty T22; Nguyễn Văn N- giám đốc công ty T23; Nguyễn Văn V – giám đốc công ty T19; Nguyễn Duy T6 – giám đốc công ty T17; Nguyễn Duy T3- giám đốc công ty X1.
- 4 chữ ký số (token) của các công ty: T, P, Vũ Ngọc Á, Minh Ấ;
- 01 biển hiệu Công ty TNHH T22, MSDN 2400975414;
- Số tiền 300.000.000 đồng (Ngô Thị H nộp khắc phục hậu quả) - chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKS-P1 ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Ngô Thị H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại điểm b, d và đ Khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Văn B và Lê Văn Q, theo lời khai của Ngô Thị H đây là những người đã bán các công ty nêu trên cho H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa phương thì xác định B đã chết thời điểm tháng 01/2021, Q đã chết thời điểm tháng 10/2023. Nên Cơ quan điều tra không thể điều tra, làm rõ để xử lý.
Đối với giám đốc các công ty T17, P, H, B, Vũ Ngọc Á, D TB, Quang V2, Nguyễn Mạnh T7, Thành N6 khai không biết, không liên quan đến hoạt động mua bán trái phép hóa đơn của những công ty trên, giám đốc công ty T24 khai mở công ty chưa kinh doanh đã bán lại cho người khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Giám đốc công ty T19, H, Phan D1, Ngọc A1, Phương L1, Trang Nhung, H, Đ, Đình Thắng BG hiện vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai, Cơ quan điều tra đã tách tài liệu để tiếp tục xác minh, làm rõ sau.
Đối với những người đứng tên kế toán và những người liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty là Bùi Đình N5, Trần Thị Y, Vũ Văn T5, Vũ Thị Ngọc Á, Bàng Thị N1 khai không biết gì về hoạt động của các công ty nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Đối với Bùi Văn H8, Trương Quý N2, Ngô Văn H9, Phạm Đức H11, Lưu Văn T12, Lê Xuân N3, Nguyễn Thị H10, Mai Văn H12, Nguyễn Văn T13, Đinh Quang T14, Lưu Quang N4, Nguyễn Phi Đ, Phan Văn C Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng vắng mặt tại địa phương; Ông Thị L2, Nguyễn Thị Thanh O địa phương xác nhận không có những người này tại nơi đăng ký thường trú, Cơ quan điều tra tách tài liệu để tiếp tục xác minh, làm rõ sau.
Đối với các công ty liên quan đến việc mua bán trái phép hóa đơn của 22 công ty trên hiện chưa xác minh được, Cơ quan điều tra đã tách tài liệu để tiếp tục điều tra, làm rõ sau.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận: Trong thời gian gần 05 năm, bị cáo nhiều lần đã mua các công ty của B và Q. Sau khi mua công ty để mua bán hóa đơn một thời gian bị cáo bỏ và mua công ty khác do lo sợ cơ quan chức năng phát hiện. Tổng số bị cáo đã mua 22 công ty để thực hiện hành vi mua bán hóa đơn; khi mua lại các công ty này đã có dấu, chữ ký của giám đốc, kế toán. Việc mua bán hóa đơn do đều do B1 và Q giới thiệu. Sau khi B và Q chết, năm 2023 bị cáo ra cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, đã nộp lại toàn bộ số tiền được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép hóa đơn để cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm b, d và đ Khoản 2 Điều 203; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Ngô Thị Hiền từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Ngô Thị H nộp lại số tiền 912.036.586 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 máy tính xách tay (laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 13 dấu của các công ty: Hải Nam, MSDN 2400911635; T, MSDN 2400916030; Duy Thành TB, MSDN 1001231932; Duy Tân, MSDN 2400959690; Văn Việt, MSDN2400950352; Đình Thắng BG, MSDN 2400638802; Quang Vinh, MSDN 2400957414; Phương L1, MSDN 2400948272; Nguyễn Mạnh T7, MSDN 2400961724; Vũ Ngọc Á, MSDN 2400943877; Ngọc A1, MSDN 2400930557; Phan Dung, MSDN 2400943669; Thành Nam, MSDN 2400964700; 01 máy tính xách tay (Laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP, serial: CND6332L6L, Model: 15-ay071TU đã qua sử dụng; 11 dấu chức danh giám đốc của những người sau đây: Bàng Thị N1 – giám đốc công ty X2; Phan Thị D1- giám đốc công ty T21; Trịnh Thị D- giám đốc công ty T20; Vũ Thị Ngọc Á-giám đốc công ty V4; Nguyễn Mạnh T7-giám đốc công ty N7; Mai Đức T4- giám đốc công ty V3; Ngụy Đình V1- giám đốc công ty T22; Nguyễn Văn N- giám đốc công ty T23; Nguyễn Văn V – giám đốc công ty T19; Nguyễn Duy T6 – giám đốc công ty T17; Nguyễn Duy T3- giám đốc công ty X1; 04 chữ ký số (token) của các công ty: T, P, Vũ Ngọc Á, Minh Ấ; 01 biển hiệu Công ty TNHH T22, MSDN 2400975414;
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.162.500.000 đồng của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Trong thời gian từ tháng 12/2019 đến tháng 8/2023, Ngô Thị H có hành vi bán trái phép 5.374 tờ hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 4.498.559.571.011 đồng; mua trái phép 387 tờ hóa đơn GTGT kê khai làm hàng hóa, dịch vụ mua vào ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 4.671.777.658.601 đồng tại 22 công ty: H, Minh Ấ, T, D TB, Phương L1, Văn V, Ngọc A1, Tân Phú M1, Vũ Ngọc Á, P, Phan D1, Duy T6, Nguyễn Mạnh T7, Quang V2, Đình Thắng BG, T, Đ, B, H, Q, Thùy Dương A2, Thanh T9. Sau khi trừ các chi phí, Ngô Thị H đã thu lợi bất chính số tiền là 912.036.586 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra tự thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về quyết định hình phạt:
Xét, nhân thân bị cáo Ngô H chưa có tiền án, tiền sự phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra tự thú. Mặc khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm thu nhập ổn định, số tiền thu lợi bất chính của bị cáo đã được khắc phục toàn bộ; bị cáo đã chứng minh có đủ điều kiện để được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Chính vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục và răn đe đối với các bị cáo, đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước.
[8] Về thu lợi bất chính: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, bị cáo thu lợi bất chính là 912.036.586 đồng. Xét, đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 13 dấu của các công ty: Hải Nam, MSDN 2400911635; T, MSDN 2400916030; Duy Thành TB, MSDN 1001231932; Duy Tân, MSDN 2400959690; Văn Việt, MSDN2400950352; Đình Thắng BG, MSDN 2400638802; Quang Vinh, MSDN 2400957414; Phương L1, MSDN 2400948272; Nguyễn Mạnh T7, MSDN 2400961724; Vũ Ngọc Á, MSDN 2400943877; Ngọc A1, MSDN 2400930557; Phan Dung, MSDN 2400943669; Thành Nam, MSDN 2400964700; 01 máy tính xách tay (Laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP, serial: CND6332L6L, Model: 15-ay071TU đã qua sử dụng; 11 dấu chức danh giám đốc: Bàng Thị N1 – giám đốc công ty X2; Phan Thị D1- giám đốc công ty T21; Trịnh Thị D- giám đốc công ty T20; Vũ Thị Ngọc Á-giám đốc công ty V4; Nguyễn Mạnh T7-giám đốc công ty N7; Mai Đức T4- giám đốc công ty V3; Ngụy Đình V1- giám đốc công ty T22; Nguyễn Văn N- giám đốc công ty T23; Nguyễn Văn V – giám đốc công ty T19; Nguyễn Duy T6 – giám đốc công ty T17; Nguyễn Duy T3- giám đốc công ty X1; 04 chữ ký số (token) của các công ty: T, P, Vũ Ngọc Á, Minh Ấ; 01 biển hiệu Công ty TNHH T22, MSDN 2400975414 đều liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với 01 máy tính xách tay (laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với số tiền 1.162.500.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về các vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và những người liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, d và đ Khoản 2 Điều 203; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
- Xử phạt tiền bị cáo Ngô Thị H 300.000.000 đồng.
- Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Ngô Thị H
- Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Buộc bị cáo Ngô Thị H nộp lại số tiền 912.036.586 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 13 dấu của các công ty: Hải Nam, MSDN 2400911635; T, MSDN 2400916030; Duy Thành TB, MSDN 1001231932; Duy Tân, MSDN 2400959690; Văn Việt, MSDN2400950352; Đình Thắng BG, MSDN 2400638802; Quang Vinh, MSDN 2400957414; Phương L1, MSDN 2400948272; Nguyễn Mạnh T7, MSDN 2400961724, Vũ Ngọc Á, MSDN 2400943877; Ngọc A1, MSDN 2400930557; Phan Dung, MSDN 2400943669; Thành Nam, MSDN 2400964700;
- Tịch thu tiêu hủy 11 dấu chức danh giám đốc của những người sau đây: Bàng Thị N1 – giám đốc công ty X2; Phan Thị D1- giám đốc công ty T21; Trịnh Thị D- giám đốc công ty T20; Vũ Thị Ngọc Á - giám đốc công ty V4; Nguyễn Mạnh T7 - giám đốc công ty N7; Mai Đức T4- giám đốc công ty V3; Ngụy Đình V1- giám đốc công ty T22; Nguyễn Văn N- giám đốc công ty T23; Nguyễn Văn V – giám đốc công ty T19; Nguyễn Duy T6 – giám đốc công ty T17; Nguyễn Duy T3- giám đốc công ty Duy Thành
- Tịch thu tiêu hủy: 4 chữ ký số (token) của các công ty (T, P, Vũ Ngọc Á, Minh Ấ) có các số là: 955190352616; 955190364079; 955190411677 ; 955190369988; 01 biển hiệu Công ty TNHH T22, MSDN 2400975414.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 máy tính xách tay (Laptop) màu ghi xám nhãn hiệu HP, serial: CND6332L6L, Model: 15 - ay071TU đã qua sử dụng;
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 05 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.162.500.000 đồng của bị cáo Ngô Thị H để đảm bảo việc thi hành án.
(Theo biên lai thu tiền số 0000274 ngày 22/7/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và theo ủy nhiệm chi ngày 16/5/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra – Công an thành phố H nộp tiền vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
- Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về các vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và những người liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hà |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị H mua bán trái phép hóa đơn
