|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lan
Ông Vũ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc L, sinh năm: 1967, tại: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Số B đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số D đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc A và bà Trần Thị T; có vợ: Trần Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10-01-1992, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Ngày 20-11-1993, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phúc thẩm phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Ngày 25-11-1995, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phạt 15 tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân. Ngày 08-5-1998, Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 12-02-2001, Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 19-01-2008, Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 24-12-2012, Công an phường T, thành phố N ra Quyết định xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 07-9-2013, Công an huyện X, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính cảnh cáo hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 13-01-2020, Công an phường T, thành phố N xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 28-10-2020, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-5-2024, chuyển tạm giam từ ngày 31-5-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an tỉnh N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Anh Nguyễn Gia L1, sinh năm 1994
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20-5-2024, Phạm Ngọc L đến chơi game tại quán I, số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định do anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1989, trú tại số A đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định làm chủ. L ngồi chơi game tại bàn máy tính số 11, tầng 1 của quán.
Khoảng 21 giờ 47 phút cùng ngày, do máy tính số 11 bị lỗi kỹ thuật nên L chuyển sang ngồi chơi game tại bàn máy tính số 7 (cách bàn máy tính số 11 là 3,9 mét). Lúc này, L quan sát thấy chiếc điện thoại di động Iphone 13 128GB của anh Nguyễn Gia L1, sinh năm 1994, trú tại xã C, huyện V, tỉnh Nam Định đang cắm dây sạc để tại khu vực bàn máy tính số 7 không có người trông coi (anh L1 cắm sạc điện thoại để đấy và đi sang các bàn máy tính khác để xem mọi người chơi game), L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Khoảng 22 giờ 02 phút cùng ngày, L lén lút dùng tay trái cầm chiếc điện thoại Iphone kéo sát về phía người mình, dùng tay phải tháo dây sạc ra khỏi điện thoại và bỏ chiếc điện thoại vào túi quần phía trước bên trái rồi nhanh chóng đi về nhà tại số D đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. L kiểm tra xác định điện thoại vừa trộm cắp được là điện thoại di động Iphone 13, dung lượng 128GB, số seri: MM6X6337DF, IMEI: 351055803794485 (đã qua sử dụng), đặt mật khẩu khóa màn hình và để hình nền là hình ảnh người phụ nữ đang ngồi. L tắt nguồn chiếc điện thoại vừa trộm cắp được và cất giấu chiếc điện thoại này trong tủ quần áo của gia đình.
Khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, anh L1 phát hiện bị mất trộm chiếc điện thoại và thông báo cho chủ quán là anh Trần Ngọc T1 và nhân viên của quán Internet là anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1991, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nam Định biết sự việc. Khoảng 17 giờ ngày 21-5-2024, anh L1 đã đến Công an phường T, thành phố N trình báo.
Công an phường T đã tiến hành xác minh, triệu tập Phạm Ngọc L lên làm việc. L đã đầu thú và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động Iphone 13, 128GB đã chiếm đoạt.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Phạm Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐ GTS, ngày 24-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 13, dung lượng 128GB màu vàng đã qua sử dụng, đã thu hồi được vật chứng, có giá 9.500.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định 01 đoạn video clip ghi lại hình ảnh vụ án. Bản kết luận giám định số 1030/KLGĐ ngày 10–6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh gì đối với các mẫu gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại Iphone 13 cho anh Nguyễn Gia L1, anh L1 có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Ngọc L.
Cáo trạng số 150/CT-VKS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phạm Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Ngọc L theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 22-5-2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc L và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc L trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 24-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 02 phút ngày 20-5-2024 tại quán I số 155 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phạm Ngọc L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 dung lượng 128 GB trị giá 9.500.000 đồng của anh Nguyễn Gia L1.
Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 9.500.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện giao nộp tài sản đã chiếm đoạt cho cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị hại, bị hại là anh Nguyễn Gia L1 có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Ngọc L gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Phạm Ngọc L không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Gia L1 đã được trả lại, anh L1 đã nhận lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Bị cáo Phạm Ngọc L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Án phí: Bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Nguyễn Gia L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-5-2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc L trộm cắp tài sản
